Một vài Động tác dưỡng sinh cho mọi lứa tuổi:

Nguồn gốc xoa bóp bấm huyệt

– bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh đơn giản, phổ cập đã được hình thành từ lâu trong lịch sử y học và được ứng dụng rộng rãi, có kết quả chữa bệnh tốt. xoa bóp - bấm huyệt là phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, chủ yếu là dùng đôi bàn tay nhưng lại có tác dụng với nhiều chức năng và các hệ thống cơ quan trong cơ thể; phạm vi chỉ định khá rộng, nhất là các bệnh rối loạn cơ năng. Hiệu quả của xoa bóp, bấm huyệt, trình độ , kinh nghiệm của người thầy thuốc; mặt khác còn phụ thuộc vào trạng thái tâm lý. bệnh lí của người bệnh.

  1. Khái niệm

Xoa bóp là phương pháp dùng đôi bàn tay tác động vào da, cơ, gân, khớp của cơ thể con người nhằm mục đích nâng cao sức khỏe, phục hồi chức năng, phòng và chữa bệnh.

Khi nói xoa bóp – bấm huyệt là nói tới việc chú trọng bấm huyệt trong xoa bóp. Bấm huyệt là thủ thuật khó đòi hỏi kỹ thuật cao và trình độ lý luận tốt thì mới đạt

hiệu quả mong muốn.

I – NGUỒN GỐC

Y học hiện đại và y học dân tộc đều có xoa bóp. Xoa bóp của y học hiện đại được lý luận của y học hiện đại chỉ đạo, xoa bóp của y học dân tộc được lý luận của y học dân tộc chỉ đạo. Nhìn chung xoa bóp bằng tay của hai nền y học đều giống nhau chỉ khác nhau một số thủ thuật. Ngày nay do tiến bộ của khoa học kỹ thuật nên xoa bóp của y học hiện đại có các phương tiện máy móc hỗ trợ.

Xoa bóp có từ lâu đời và ngày càng được phát triển. Từ thời xa xưa con người đã biết dùng đôi bàn tay khéo léo để xoa bóp, vuốt ve nhằm làm dịu những đau đớn trên cơ thể. Trên các di chỉ khảo cổ, trên những chữ viết vào lau sậy, trên các hình vẽ của kim tự tháp, đền chùa, trong các sách vở viết cách đây mấy ngàn năm đều nhận thấy cách xoa bóp trong nền y học dân gian ở nước nào cũng có. Có thể nói xoa bóp là một cách chữa bệnh được ra đời sớm nhất. Nó được xây dựng và phát triển trên cơ sở những kinh nghiệm tích lũy được trong quá trình đấu tranh với bệnh tật và bảo vệ sức khỏe của con người.

Ở nước ta từ thời Hồng Bàng dựng nước (cách đây 2900 năm trước CN) nhân dân ta đã biết dùng lá ngải cứu, lá cúc tần xoa bóp chờm nóng, lá trầu không hơ nóng sát vào vùng cạnh thắt lưng, dùng hoa chổi xể ngâm rượu để xoa bóp . . . Từ đó tới nay xoa bóp ngày càng phát triển, trong chế độ phong kiến đã hình thành ba nhóm người làm xoa bóp. Một số người mù làm tầm quất ngoài đường với các thư pháp nhẹ nhàng như: bóp, chặt, đấm, bẻ các khớp đổ gây cảm giác khoan khoái dễ chịu, giảm mệt nhọc, đau lưng, mỏi gối, giảm đau mỏi các bắp thịt sau nhưng giờ lao động mệt nhọc. Một số người được trưng dụng xoa bóp cho bọn vua quan phong kiến qua các triều đại vua chúa. Một số lương y chữa bệnh bằng xoa bóp tại nhà với những môn phái khác nhau.

Trong sách vở của các nhà danh y nổi tiếng đã nghi lại dùng xoa bóp để phòng bệnh và chữa bệnh. Tuệ Tĩnh ở thế kỷ XIV đã đề cập đến xoa bóp trong cuốn "Hồng nghĩa giác tư y thư". Hoang Đơn Hòa ở thế kỷ XVI đã đề cập đến huyệt xoa bóp trong cuốn "Hoạt nhân toát yếu”, Hải thượng lãn ông đã đề cập tới xoa bóp trong cuốn "Vệ sinh yếu quyết".

Cách mạng tháng tám thành công nền y học dân tộc được giải phóng đến năm 1957 Viện y học dân tộc được thành lập, hiện nay đã có phòng xoa bóp có các bác sĩ và lương y chuyên xoa bóp để điều trị một số bệnh như đau thần kinh tọa, viêm quang khớp vai, đái dầm, vẹo cổ cấp tính, đau lưng cấp, đau lưng mãn, dị chứng bại liệt, dị chứng tai biến mạch máu não, suy nhược thần kinh, viêm gân, thấp khớp mãn v. v... đã đưa lại kết quả tốt. Đồng thời đã biên soạn tài liệu giảng dạy cho sinh viên chuyên khoa y học dân tộc, các bác sỹ y học dân tộc, phổ biến trong trong lĩnh vực thể dục thể thao, trong các trại điều dưỡng, các chuyên gia y tế nước ngoài.

Hiện nay phong trào xoa bóp bảo vệ sức khỏe đang phát triển rộng khắp, câu lạc bộ ngoài trời của các cụ về hưu, sau một thời gian luyện tập thấy sức khỏe tăng lên, bệnh mãn tính giảm đi nhiều.

Tóm lại xoa bóp ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong phòng bệnh và chữa bệnh. Nó đơn giản dễ làm, ít xảy ra tai biến, không phụ thuộc vào phương tiện máy móc thuốc men, đã giải quyết được một số bệnh cấp tính và mãn tính.

II- TÁC DỤNG CỦA XOA BÓP

1. Tác dụng đối với da

Da có tầm quan trọng rất lớn đối với cơ thể. Nó bao bọc cơ thể con người và nó có diện tích vào khoảng 15.000 cm2. Trong cơ thể, da thải hơi nước gấp đôi phổi, nó cũng là cơ quan thẩm thấu và hô hấp, da còn tham gia vào quá trình chuyển hóa nước, muối, aubumin và vitamin. Da là cơ quan nhận cảm tức là nhận những kích thích nóng lạnh (trong đó có xoa bóp), truyền kích thích vào hệ thống thần kinh trung ương và tiếp nhận những phản ứng trả lời của cơ thể đối với kích thích đó. Vì vậy khi xoa bóp có tác dụng trực tiếp đến da và thông qua da ảnh hưởng đến toàn thân.

a) Ảnh hưởng cục bộ: khi xoa bóp lớp sừng của biểu bì được bong ra làm cho hô hấp của da được tốt hơn mặt khác tăng cường chức năng của tuyến mỡ, tuyến mồ hôi nên sự đào thải các chất cặn bã qua các tuyến mồ hôi được tốt hơn. Xoa bóp làm cho mạch máu giãn tăng cường tuần hoàn động mạch và tĩnh mạch có lợi cho việc dinh dưỡng ở da, làm cho da co giãn tốt, da bóng đẹp và mịn, có tác dụng tốt đối với chức năng bảo vệ cơ thể của da, mặt khác xoa bóp có thể làm cho nhiệt độ của da tăng lên do mạch tại chỗ và toàn thân giãn.

b. Ảnh hưởng đến toàn thân: khi xoa bóp các chất nội tiết của tế bào được tiết ra thấm vào máu và có thể tăng cường hoạt động của mạch máu và thần kinh ở da. Mặt khác thông qua phản xạ thần kinh, xoa bóp có tác động đến toàn cơ thể.

Như vậy xoa bóp đã có tác đụng đối với toàn thân: tăng cường hoạt động của thần kinh; nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực hoạt động của cơ thể.

2. Tác dụng đối với hệ thần kinh

Xuất phát từ học thuyết về thần kinh của set-sẽ-Nốp và Páp-lốp trong cơ thể, tác dụng của xoa bóp đối với cơ thể thì vai trò của hệ thần kinh là chủ đạo. Tất cả các chức năng của cơ thể người ta đều do hệ thần kinh điều khiển. Cơ thể thông qua hệ thần kinh có những phản ứng đáp lại tích cực đối với những kích thích của xoa bóp.

a) Rất nhiều tác giả cho rằng: xoa bóp có ảnh hưởng rất lớn đối với hệ thần kinh thực vật nhất là đối với hệ giao cảm, qua đó gây nên những thay đổi trong một số nội tạng và mạch máu.

Ví dụ:

Xoa bóp gáy, lưng, vai, ngực có thể gây lên những thay đổi ở các cơ quan do thần kinh thực vật ở cổ chi phối và các cơ quan do trung khu thực vật cao cấp ở chất xám não thất III chi phối. Do đó xoa bóp vùng đó điều trị các bệnh về mũi họng, cao huyết áp, trạng thái thần kinh như mất ngủ, rối loạn dinh dưỡng ở tay, đau nửa đầu do vận mạch.

Xoa bóp vùng thắt lưng cùng, gồm da ở vùng trên thắt lưng, mông đến nếp mông nửa dưới bụng và 1/3 trên của đùi. Xoa bóp tác động đến vùng gây phản xạ thần kinh thực vật thắt lưng - cùng điều khiển một cơ quan chậu lớn nhỏ, chi dưới, sinh dục, nó có tác dụng dinh dưỡng khi có bệnh về hệ mạch chấn thương ở chân, giảm co thắt mạch, hàn gắn vết thương, dinh dưỡng các vết loét.

Phát C7 có thể gây phản xạ cơ tim (co lại)

Xoa bóp vùng thượng vị cũng ảnh hưởng đến chức năng của dạ dày - Tá tràng, bàng quang và nhanh dương.

b) Xoa bóp có thể gây lên thay đổi điện não:kích thích nhẹ nhàng gây hưng phấn, kích thích mạnh thường gây ức chế.

3. Tác dụng đối với cơ, gân, khớp:

a) Đối với cơ: xoa bóp có tác dụng làm tăng tính đàn hồi của cơ, tăng năng lực làm việc, sức bền của cơ và phục hồi sức khỏe cho cơ nhanh hơn khi không xoa bóp, khi cơ làm việc quá căng gây lên phù nề co cứng và đau, xoa bóp có thể giải quyết các chứng này. Ngoài ra nó có tác dụng tăng dinh dưỡng cho cơ vì vậy xoa bóp chữa teo cơ rất tốt.

b) Đối với gân khớp:xoa bóp có khả năng tính co giãn, tính hoạt động của gân, dây chằng, thúc đẩy việc tiết dịch trong cơ khớp và tuần hoàn quanh khớp. Nó có thể dùng để chữa bệnh khớp.

4. Tác dụng đối với hệ tuần hoàn

Đối với huyết động: Một mặt xoa bóp làm giãn mạch, trở lực trong lòng mạch giảm đi, mặt khác xoa bóp trực tiếp đẩy máu về tim, do đó xoa bóp vừa giảm gánh nặng cho tim vừa giúp máu trở về tim tốt hơn.

Đối với người huyết áp cao ít luyện tập xoa bóp có thể làm hạ áp.

Xoa bóp trực tiếp ép vào lâm ba cầu, nên giúp cho tuần hoàn lâm ba nhanh và tốt hơn, đo đó có thể có tác dụng tiêu sưng.

d) Trong khi xoa bóp số lượng hồng cầu, tiểu cầu hơi tăng, xoa bóp trở về như cũ, số lượng bạch cầu, huyết sắc tố cũng có thể tăng.

Sự thay đổi nhất thời này có tác dụng tăng cường sự phòng vệ của cơ thể.

5. Tác dụng đến hệ bạch huyết:

Trong cơ thể con người, ngoài hệ thống mạch máu ra còn có một hệ thống nữa là hệ bạch huyết. Hệ bạch huyết gồm có một hệ thống mao mạch bạch huyết, mạch và bạch huyết trong đó bạch huyết chuyển động. Mạch bạch huyết tựa như một hệ thống lọc loại bỏ chất thừa của chất dịch mô hoặc dịch vệ trong các cơ quan.

Xoa bóp giúp cho việc vận chuyển bạch huyết được tăng cường. Dòng máu va dòng bạch huyết tăng trước tiên tạo điều kiện giảm hiện tượng ngừng trệ và sự tiết dịch ở vùng khớp, ổ bụng và có tác dụng tiêu nề.

6) Tác dụng đối với các chức năng

a) Đối với hô hấp: khi xoa bóp thở sâu: có thể do trực tiếp kích thích vào thành ngực và phản xạ thần kinh gây nên, do đó có tác giả dùng xoa bóp để chữa các bệnh phế khí thũng, hen phế quản, xơ cứng phổi... để nâng cao chức năng thở và ngăn chặn sự suy sụp của chức năng thở.

b) Đối với tiêu hóa: có tác dụng tăng cường nhu động của dạ dày, của ruột và cải thiện chức năng tiêu hóa khi chức năng tiết dịch tiêu hóa kém, dùng kích thích mạnh để tăng tiết dịch. Khi chức năng tiết dịch tiêu hóa quá mạnh, dùng kích thích vừa và nhẹ để giảm tiết dịch.

c) Đối với quá trình trao đổi chất: xoa bóp làm tăng lượng nước tiểu bài tiết ra nhưng không thay đổi độ acid trong máu. Có tác giả nêu lên, xoa bóp 2, 3 ngày sau, chất nitơ trong nước tiểu tăng lên và kéo dài vài này do tác dụng phân giải Prôtít của xoa bóp gây nên. Xoa bóp toàn thân có thể tăng nhu cầu về dưỡng khí 10 – 18%, đồng thời cũng tăng lượng bài tiết thán khí.

Mười hai động tác dưỡng sinh chào buổi sáng

LUONG Y LE VAN THAO XOA BÓP DAY ẤN HUYỆT TAP DUONG SINH

Liệt dương là trạng thái dương vật không căng, cảm giác tình dục thấp, không thể giao hợp được. Nguyên nhân của liệt dương là do ức chế trong căng thẳng tinh thần thường xuyên, rối loạn nội tiết tố hoặc do bệnh tại cơ quan sinh dục, do quan hệ trục trặc giữa 2 vợ chồng. Khi bị bệnh cần khám nam khoa để điều trị và tập luyện khí công.

Điều thân: Khởi động toàn thân, tứ chi, vặn cột sống, lắc cổ…

Điều tức: Ngồi xuống sàn theo tư thế khoanh chân, thở ra bằng mũi và miệng qua kẽ răng để thải trọc khí ở bụng dưới và lồng ngực. Hít vào bằng mũi để lấy lại thanh khí.

An trụ tâm tại đan điền (khoang bụng dưới): Để tâm tĩnh và tinh – khí – thần quy nguyên.

Khai mở mệnh môn: Sau khi điều tâm thấy hơi thở tự động tại Đan điền và Đan điền xuất hiện ấm nóng và tăng áp khí thì bắt đầu dùng ý thủ mệnh môn (nằm giữa thắt lưng). Khi hít vào nhận biết Đan điền, thở ra đẩy năng lượng sang Mệnh môn, một lúc sau Mệnh môn sẽ ấm nóng và lan tỏa khí nóng sang 2 bên thận, vùng thắt lưng.

Khai mở Hội âm: Khi hít vào ý thủ Đan điền, khi thở ra dùng ý niệm đẩy năng lượng xuống Hội âm (tâm lực giữa bộ phận sinh dục và hậu môn), một lúc sau ta sẽ thấy Hội âm rung động nhẹ nhàng để hút âm khí từ dưới đất lên để dưỡng Thận – biểu hiện vùng thắt lưng buồn buồn, man mát.

Vận hành chu thiên: Khi hít vào dẫn khí từ Ấn đường (tâm lực nằm trên đường giao nhau giữa 2 mắt) xuống Đan điền. Thở ra quán khí sang Mệnh môn. Ngay lập tức sẽ thấy dòng sinh lực ấm nóng xông lên não. Tiếp tục thở đến khi cảm nhận toàn bộ cột sống và vùng thắt lưng ấm nóng.

Ngoài ra, ăn uống đúng để tạo tiết tố nam (Androgen), các món ăn tăng cường tính dục như các rau xơ, hoa quả hạt khô như vừng, lạc, đỗ, rau hẹ, hạch đào nhân, các loại thịt tăng kích thích tình dục như thịt lợn, thịt dê, thịt bò, lương trạch, hải sản, cá mực, bạch tuộc là những loại sinh nhiều các chất và axit amin tình dục. Các món ăn chứa kẽm (Zn) là chất kết nối và làm mạnh tình dục như thịt bò, thịt nạc, trứng gà.

THƯ GIÃN PHỤC HỒI SỨC KHỎE



liên hệ trực tiếp địa chỉ: Thanh Đạm - Tân Hải - Phú Tân - Cà Mau Giác hơi, xoa bóp day ấn huyệt . Tại đây làm Từ Thiện không vụ lợi xoa bóp thư giãn, bấm huyệt trị bệnh, cạo gió giác hơi, giúp thư giãn, thoải mái và nhanh chóng phục hồi sức khỏe.

hướng dẫn cho bệnh nhân tự Luyện tập dưỡng sinh là một phương pháp phòng ngừa và điều trị bệnh hiệu quả đã được chứng minh bằng lý luận và thực tiễn. Song, hiện nay vẫn còn nhiều người bệnh chưa biết đến.

NGUỒN GỐC CỦA MASSAGE XOA BÓP – VẬT LÝ TRỊ LIỆU

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, massage xoa bóp là phương pháp cổ xưa nhất của y học. Từ xa xưa, để sinh tồn, con người phải sống trong hoàn cảnh thiên nhiên cực kỳ khốc liệt, mà còn phải đấu tranh chống bệnh tật, khi cơ thể bị va đập hoặc bị bệnh làm cho đau đớn khó chịu, loài người đã biết dùng tay xoa bóp những chỗ đau làm giảm bớt nỗi đau hoặc làm cho nỗi khó chịu trong người được cải thiện.
Theo dòng thời gian,trải qua rất nhiều lần thực nghiệm, người ta không ngừng tổng kết và tìm tòi, phát hiện được những quy luật điều trị bệnh tật thông qua massage xoa bóp. Massage xoa bóp là phương pháp trị liệu cổ xưa nhất của y học.

Massage (xoa bóp) là một loại kích thích vật lý, trực tiếp tác động vào tác động lên huyệt, da, gân, khớp, thần kinh, mạch máu và các cơ quan cảm thụ gây nên những thay đổi về thần kinh, thể dịch, nội tiết, qua đó nâng cao năng lực hoạt động của hệ thần kinh, nâng cao quá trình dinh dưỡng và năng lực công tác của cơ thể nhằm đạt tới mục đích phòng bệnh và chữa bệnh. Ưu điểm của phương pháp này là giản đơn, có hiệu quả, phạm vi chữa bệnh rộng, khả năng phòng bệnh tốt. Có thể dùng trong bất kỳ hoàn cảnh nào và không bị lệ thuộc vào các phương tiện khác.

Phương pháp này có khả năng chữa một số chứng bệnh cấp tính và nhiều khi đạt kết quả nhanh chóng. Dùng phương pháp massage để chữa một số bệnh mãn tính đảm bảo an toàn, nhẹ người, triệu chứng bệnh giảm hẳn.

Tự massage là chủ động trong việc giữ gìn sức khỏe. Trải qua một quá trình hình thành và phát triển lâu dài, ngày nay phương pháp chữa bệnh bằng massage đã chính thức thành một chuyên khoa chữa bệnh thông dụng có giá trị ở khắp nơi trên thế giới.

 



12 động tác tập dưỡng sinh trên mô hình.
Động tác 1: Hai bàn tay chắp trước ngực sát xương ức, lưng thẳng. Thở ra hết sức, tập trung ‎ấn để khởi động.
Động tác 2: Đưa hai tay lên trên và ưỡn lưng hết mức, hai ngón tay cái sát vào nhau. Hít vào, tập trung ‎ấn vào vùng thắt lưng. 
Động tác 3: Gập người lại, bàn tay chạm đất, trán chạm đầu gối. Thở ra, tập trung ‎ấn vào bụng đang co lại. 
Động tác 4: Hai bàn tay chống đất, đưa chân phải về phía sau, cổ và ngực ưỡn hết mức. Hít vào, tập trung ấn vào cơ cổ đang căng thẳng. 
Động tác 5: Đưa nốt chân trái về phía sau, đưa mông lên cao, người gập thành hình chữ V ngược. Mắt nhìn vào rốn, cằm đè lên xương ức. Ngừng thở, tập trung ấn vào vùng rốn. 
Động tác 6: Chao người xuống tư thế nằm sấp, bụng không chạm đất, chỉ có hai bàn tay, hai đầu gối và hai hàng ngón chân chạm đất. Thở ra, tập trung ấn vào động tác hạ người xuống. 
Động tác 7: Ưỡn cổ và ngực hết mức. Hít sâu, tập trung ấn vào các đốt sống thắt lưng đang bị dồn lại. 
Động tác 8: Đưa mông lên cao trở về tư thế chữ V ngược. Ngừng thở, tập trung ấn vào vùng rốn. 
Động tác 9: Đưa chân phảI lên, đầu và ngực ưỡn ngửa như động tác 4. Ngừng thở, tập trung ấn vào cơ cổ. 
Động tác 10: Trở về như động tác 3. 
Động tác 11: Vươn tay, ưỡn ngực như động tác 2. 
Động tác 12: Đưa hai tay chắp trước ngực như động tác 1




. Ðộng tác 1 : Thư giãn

Hình ảnh
Trước khi tập để 2 - 3 phút làm thư giãn cho cơ thể làm chủ lấy mình, điều khiển thư giãn để cho cơ thề luôn luôn trở về thư giãn sau mỗi động tác, vì có thư giãn cơ thể mới lấy lại sức lực, lấy lại được quân bình trong cơ thể. Phải tự kiểm tra mỗi ngày về thư giãn bằng cách đưa tay thẳng lên (hưng phấn) rồi buông xui cho nó rớt xuống theo quy luật sức nặng (ức chế).


Ðộng Tác 2 : "Thở 4 thời có kê mông và giơ chân"
Hình ảnh
Ðây là kỹ thuật cơ bản của phương pháp dưỡng sinh đã trình bày ở trên. Nên xem lại lý luận và thực tập cho kỹ, động tác này chủ yếu là tập trung hưng phấn và ức chế, đồng thời cũng tập hít vô tối đa, giữ hơi, tuyệt đối.

Biến thể : Biến thể là cách tập có biến đổi khác 1 chút. Thay vì đưa một chân lên 20cm và giữ yên trong thời 2, ta làm dao động cái chân ấy, đưa qua đưa lại, hoặc đưa lên đưa xuống, mỗi cái đưa như thế là 1 giây. Tuỳ theo sức mình, thời giữ hơi sẽ được hai, bốn, sáu giây, rồi để chân xuống thở ra (thời 3) là nghỉ (thời 4).

Ðộng tác 3 : Ưỡn cổ
Hình ảnh
Chuẩn bị : Bỏ gối dưới mông ra. Hai tay để xuôi trên giường. Lấy điểm tựa ở xương chẩm và mông.

Ðộng tác : Ưỡn cổ và lưng hổng giường đồng thời hít vô tối đa; thời 2 giữ hơi, dao động lưng qua lại từ 2 - 6 cái (không cho thiếu ôxy); thở ra triệt để có ép bụng. (Nếu không đủ sức thì không làm dao động). Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở, không hạ lưng xuống giường. Chừng nào xong động tác mơi hạ lưng xuống nghỉ.

Tác dụng : Tập các cơ phía sau lưng, tập cột sống trong vùng ngoan cố không cho cứng, dao động qua lại để tăng công hiệu động tác, làm cho khí huyết lưu thông , làm cho ấm vùng cổ, gáy, lưng trên, làm cho mồ hôi ra, chống thấp khớp, trị cảm cúm.

Ðộng tác 4 : Ưỡn mông
Hình ảnh
Chuẩn bị : Lấy điểm tựa ở lưng trên và 2 gót chân.

Ðộng tác : Ưỡn mông làm cho thắt lưng, mông và chân đều hổng giường, đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại, mỗi lần dao động cố gắng hít vô thêm, dao động từ 2 - 6 cái; thở ra và ép bụng thật mạnh, đuổi hơi ra triệt để. Thở và dao động; như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 4).

Tác dụng : Co thắt các cơ thắt lưng, mông và phía sau 2 chân làm cho ấm vùng ấy; trị đau lưng, đau thần kinh toạ và thấp khớp; làm đổ mồ hôi, trị cảm cúm.

Ðộng tác 5 : Bắc cầu
Hình ảnh
Chuẩn bị : Lấy điểm tựa ở xương chẩm, hai cùi chỏ và 2 gót chân

Ðộng tác : Làm cho cả thân hình cong vòng, hỏng giường từ đầu đến chân, đồng thời hít vô tối đa, giữ hơi, làm dao động qua lại tuỳ sức, từ 2 đến 6 cái ; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 đến 3 hơi thở.

Tác dụng : Cộng hai tác dụng của hai động tác ưởn cổ và ưởn mông. Trị cảm cúm làm đổ mồ hôi, bớt đau ở cổ lưng và chân. Làm cho khí huyết lưu thông lên xuống dài theo cột sống, tác động đến giao cảm thần kinh dài theo vùng cổ, lưng và chân. Làm cho các cơ phía sau thân càng mạnh thêm, chống khòm lưng và già nua.

Ðộng tác 6 : Ðộng tác hạ góc hay tam giác.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa, lót hai bàn tay úp xuống kề bên nhau để dưới mông, 2 chân chống lên, bàn chân gần đụng mông.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi. Trong lúc ấy dao động ngã hai chân qua bên này rồi bên kia đụng giường mỗi lần ngã 1 giây, cố gắng hít hơi vô thêm nữa, từ 2 - 6 cái: thở ra bằng cách co chân và ép chân trên bụng để duỗi hơi ra triệt để; xong để chân xuống. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. Ðộng tác này gọi là động tác "Ba góc" vì đầu gối vẽ hình ba góc. (Hình 6, 6a, 6b).

Tác dụng : Vận động tất cả tạng phủ trong bụng, khí huyết được đẩy đi tớinơi hiểm hóc nhất của lá gan, lá lách dạ dày, ruột, bộ sinh dục phụ nữ, vận động vùng thận và thắt lưng, giúp trị bệnh gan, lách, u vị, bệnh phụ nữ và các bệnh đau lưng.

Biến thể: Chuẩn bị : Ðể hai tay dưới mông như trên. Chống hai chân dang xa ra độ 40cm cho chân không vường.

Ðộng tác : Hít vô một hơi tối đa; giữ hơi đồng thời dao động bằng cách hạ một đầu gối vào phía trong xuống sát giường và thay phiên nhau hạ đầu gối bên kia từ 2 - 6 cái; thở ra như trên. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 6c, 6d).

Tác dụng : Tác dụng như động tác 3 góc, và theo kinh nghiệm của học viên dưỡng sinh, lại có thêm tác dụng làm bớt đi tiểu đêm.

Ðộng tác 7: Cái Cày
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ðầu không kê gối, hai tay xuôi, chân duỗi ngay.

Ðộng tác : Cất chân lên phía đầu càng thấp, cơ thể đụng giường càng tốt, đồng thời hít vô tối đa;, giữ hơi, hai tay co lại vịn hai mào chậu để kềm cho vững rồi dao động hai chân qua lại, từ 2 - 6 cái tuỳ sức; thở ra có ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở.(Hình 7, 7a).

Tác dụng : Vận động cơ vai, cổ, vùng ngoan cổ và cơ phía trước thân, khí huyết dồn lên đầu, huyết áp tối đa và tối thiều có thể tăng từ 0,5 - 2,0 cm thuỷ ngân, vì có trở ngại trong tuần hoàn. Ðộng tác dao động vận động các cơ hóng làm cho tạng phủ càng bị xoa bóp. Tác dụng rất tốt đối với những người tuần hoàn kém ở đầu và ở người huyết áp thấp, hay chóng mặt, nhức đầu. Thận trọng đối với người huyết áp cao.

Ðộng tác 7 bis : Trồng chuối
Hình ảnh
Chuẩn bị : Như động tác Cái cày.

Ðộng tác : Chân đưa thẳng lên trời, tay co lại chống vào mông để làm chỗ tựa cho vững, thở tối đa và triệt để có trở ngại từ 1 - 3 hơi thở. Dao động trong động tác này có thể làm trong thời 2 bằng cách đánh chân trước sau thay phiên hoặc dang ra khép lại (Hình 7 bis, 7 bis a).

Tác dụng : Ðây là một động tác dồn máu lên đầu với cột máu có áp suất cao gần bằng bề cao của người tập, do độ mà huyết áp ở đầu lên cao hơn huyết áp trong động tác Cái cày. Rất nguy hiểm đối với người cao huyết áp nên cấm làm. Những người áp huyết bình thường hoặc thấp, tuổi không cao (dưới 50) thì động tác này rất bổ ích. Theo Yôga nó giải quyết được bệnh suy nhược thần kinh (thay đổi máu lên óc), điều hoà tuyến nội tiết, tăng cường tuần hoàn ở cổ và đầu, làm bớt xung máu trong bệnh trĩ, có ảnh hưởng tốt đến toàn bộ cơ thể. Hai động tác "Cái cày" và "Trồng chuối" khác nhau ở mức độ nên tuỳ theo sức chịu đựng của cơ thể mà quyết định nên làm động tác nào, hoặc không nên làm. Phải bảo đảm an toàn tuyết đối cho người tập không xảy ra tai biên mách máu não.

Ðộng tác 8 : Nẩy bụng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa, co hai chân sát mông, hai bàn chân úp vào nhau, đầu gối bật ra hai bên, hai tay xuôi trên giường.

Ðộng tác : Nẩy bụng và ưởn cổ, làm cho cơ thể chỉ tựa trên xương chẩm, hai cùi chõ và hai bàn chân, cái mông cũng bổng giường, hai đầu gối cố gắng sát giường, đồng thời hít vô tối đa; qua thời 2 giữ hơi và dao động nhờ sứcmạnh của cùi chõ và hông, từ 2 - 5 cái; thở ra ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 8, 8a).

Tác dụng : Vận động cơ ở phía sau thắt lưng, đùi, hông và bụng, xoa bóp nội tạng bụng. Trị bệnh đau lưng và bệnh phụ nữ.

Ðộng tác 9 : Vặn cột sống và cổ ngược chiều.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm 1 bên, co chân lại, chân dưới để phía sau, tay trên nắm bàn chân dưới, bàn chân trên để lên đầu gối chân dưới và đầu gối chân trên sát giường, tay dưới nắm đầu gối chân trên.

Ðộng tác : Vận động cột sống và cổ ngược chiều, hít vô tối đa, trong thời giữ hơi dao động cổ qua lại từ 2 - 6 cái thở ra triệt để có ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở rồi đổi bên kia. (Hình 9).

Tác dụng : Vận động cột sống chung quanh đường trục của nó một cách tối đa như " vắt áo cho hết nước", dao động cổ qua lại làm cho các đốt xương cổ, dây chằng, mạch máu, thần kinh, khí quản, thực quản, thanh quản được xoa bóp mạnh, khí huyết được lưu thông tối đa, các khớp xương hoạt động tối đa không xơ cứng, giải quyết được các bệnh đau khớp cổ hay trặc cổ, bệnh thanh quản. Thở có trở ngại đẩy khí vào vùng gan lá lách rất mạnh, phòng và chữa các bệnh lá lách và gan.

Ðộng tác 10 : Chiếc tàu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sắp, tay xuôi, bàn tay nắm lại.

Ðộng tác : Ưởn cong lưng tối đa, đầu kéo ra sau nổi lên khỏi giường, hai chân sau để ngay và ưỡn lên tối đa, hai tay kéo ra phía sau hổng lên, như chiếc tàu đi biển, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động : nghiêng bên này, vai chấm giường, nghiêng bên kia, vai chấm giường từ 2 - 6 cái (như chiếc tàu bị sóng nhồi); thở ra có ép bụng. Làm như thế tuỳ sức từ 1 - 3 hơi thở (Hình 10, 10a).

Tác dụng : Vận động toàn bộ các cơ phía sau thân, do đó rất công hiệu để chống lại già nua, còng xương sống. Tăng cường tuần hoàn khí huyết ở cột sống, chống cảm cúng và suy nhược thần kinh.

Chú ý : Ðể tăng cường tác dụng, có hai tay cầm 2 quả tạ nhỏ, mỗi quả nặng không quá 250g.

Ðộng tác 10 bis : Ngựa trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sấp, hai tay co lại, chống lên giường và ôm đầu, hai chân co lên sát mông.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, đồng thời hai tay ôm đầu, bật đầu ra phía sau tối đa, gỏ cứng bụng đưa lên hổng giường, ễn lưng thật mạnh: giữ hơi, dao động đầu, cổ, vai. Qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 10 bis, 10 bis a).

Tác dụng: Vận động bụng và lưng, trị đau lưng và làm mạnh cơ bụng, tại thấp khớp vai.

Ðộng tác 11 : Rắn hổ mang.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sấp, hai bàn tay để hai bên, ngang thắt lưng ngón tay hướng ra ngoài.

Ðộng tác : Chống tay thẳng lên, ưỡn lưng, ưỡn đầu,ra phía sau tối đa, hít vô tối đa trong thời giữ hơi, dao động thân và đầu theo chiều trước sau từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và vặn mình, vẹo cổ qua 1 bên, cố gắng nhìn cho được gót chân bên kia. Hít vô tối đa có trở ngại; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái quay sang bên kia thở ra triệt để, cố gắng nhìn gót chân đối xứng. Làm động tác và thở như vậy từ 2 - 4 hơi thở. (Hình 11, 11a).

Tác dụng : Vận động các cơ ở lưng, hông và cổ, làm cho khí huyết ở các vùng ấy chạy đến, thở có trở ngại đẩy khí huyết chạy đến nơi hiểm hóc nhất của gan, lách và phổi. Phổi mỗi bên nở ra tối đa, chống được xơ hoá và hiện tượng dính ở màng phổi sau khi bị viêm.

Ðộng tác 12 : Sư tử.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sắp, co hai chân để dưới bụng, cằm đụng giường, hai tay đưa thẳng ra trước.

Ðộngtác : Ðầu cất lên ưỡn ra phía sau tối đa, hít vô tối đa; thời hai giữ hơi, dao động thân trên và đầu qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra ép bụng. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 12).

Tác dụng : Vận động cổ, ot các khớp xương vai, tuyến giáp trạng làm cho khí huyết lưu thông đến các vùng này. Trị bệnh khớp vai.

Ðộng tác 13: Chào mặt trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi một chân co dưới bụng, chân kia duỗi ra phía sau, hai tay chống xuống giường.

Ðộng tác : Ðưa hai tay lên trời, thân ưỡn ra sau tối đa, hít vô thuận chiều; trong lúc giữ hơi, dao động thân trên và đầu theo chiều trước sau từ 2 - 6 cái; hạ tay xuống chống giường, thở ra tối đa thuận chiều có ép bụng. Làm như vậy từ 1 - 4 hơi thở. Ðổi chân và tập như bên kia. (Hình 13, 13a).

Tác dụng : Vận động các khớp xương sống và cơ phía sau thân làm cho khí huyết vận hành phía sau lưng, phòng và trị bệnh đau lưng.

Ðộng tác 14 : Chổng mông thở.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Chổng mông và dựa trên điểm tựa gồm hai đầu gối, 2 đầu gối, 2 cùi chõ, 2 cánh tay và cái trán có thể thư giãn hoàn toàn cũng không ngã được, thậm chí ngủ đi nữa cũng không ngã.

Ðộng tác : Hít vô tối đa có trở ngại; giữ hơi, trong lucs ấy dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để có ép bụng. Làm như thế 5 - 10 hơi thở. (Hình 14).

Tác dụng : Ðây là một tư thế thở được nhiều hơi nhất nên tập càng nhiều càng tốt. Ðộng tác này giúp trị các bệnh sa tạng phủ, thoát vị, sa tử cung, bệnh trĩ, làm co hơi trong ruột thoát ra dễ dàng, làm cho máu dồn lên đầu trị bệnh suy nhược thần kinh.

Ðộng tác 15 : NGỒI HOA SEN
Hình ảnh
Kiểu này khó nhất, tác dụng nhất, nhưng lúc đầu đau nhất, máu chảy khô nhất, tê rần nhất; song tập quen thì máu và thần kinh lần lần hoạt động tốt trong bất cứ tư thế nào. Hai bàn tay để lên 2 đầu gối, lưng thật ngay rồi bắt đầu thở : hít vô, thắt lưng ễn càng tốt; giữ hơi, làm dao động qua lại, càng hít vô thêm từ 2 - 6 cái; thở ra bằng cái vặn tréo thân mình ngó ra phía sau bên này, đuổi hết khí trọc trong phổi ra. Rồi ngồi ngay lại như trước, bắt đầu một hơi thở thứ nhì : hít vô, giữ hơi và dao động 2 - 6 cái; thở ra bằng cách vặn tréo người ngó ra phía sau bên kia. (Hình 15d). Làm như thế từ 2 - 4 hơi thở.

Ðộng tác 16 : Xoa mặt và đầu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay chắp lại rất mạnh rồi lăn tròn bàn tay, chung quanh cái trục hai cẳng tay giao nhau, đến mức tối đa phía trên phía dưới từ 2 - 4 lần.

Tác dụng : Làm cho khớp cổ tay khoẻ lên và dẻo dai, bớt nhức mỏi. (Hình 16). Xong xat hai bàn tay vào nhau cho mạnh và nhanh cho hai bàn tay thật nóng.

Ðộng tác : Ðầu ngưỡng về phía sau, hai tay đặt dưới cằm áp vào mặt, xoa mặt từ dưới lên đến đỉnh đầu, đồng thời đầu dần dần cúi xuống ót, đầu ngưỡng hẳn về phía sau, hai tay xoa hai bên cổ và áp vào cằm. Tiếp tục xoa lại như trước, từ 10 - 20 lần (Hình 16a, 16b, 16c và 16d). Trong động tác này, thở tự nhiên.

Ðộng tác 17 : Xoa hai loa tai.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai loa tai có những huyệt châm để trị nhiều bệnh của toàn cơ thể, vậy việc xoa hai loa tai rất cần thiết để điều hoà trong cơ thể, phòng bệnh và trị bệnh. Ðể hai tay úp vào 2 bên má trước loa tai.

Ðộng tác : Xoa bàn tay về phía sau áp vào loa tai, khi bàn tay qua khỏi loa tai rồi, thì xoa trở lại áp vào loa tai cho đến má. Xoa từ 10 - 20 lần cho ấm cả loa tai (Hình 17, 17a). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 18 : Áp vào màng nhĩ.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Úp hai lòng bàn tay vào 2 loa tai cho sát, cho khít chừng nào tốt chừng nấy, để cho kín hơi.

Ðộng tác : Ấn mạnh vào lỗ tai cho hơi trong lỗ tai tăng áp suất và áp vào màng nhĩ, rồi buông hai tan ra cùng một lúc để cho màng nhĩ trở về chỗ cũ. Làm như thế từ 10 đến 20 lần. Ðộng tác này làm tốt thì nghe có tiếng "chít, chít", vì khi áp hai bàn tay vào được khít thì hơi thoát ra kêu "chít, chít".

Tác dụng : Ðộng tác nầy có tác dụng đến tai giữa và tai trong vì màng nhĩ chuyển rung động đến dây chuyền xương nhỏ ở tai giữa đến cửa sổ hình bầu dục ở tai trong, làm cho các xương vận động đều, không xơ cứng và làm cho khí huyết lưu thông vào tận đến trong óc có thể làm bớt cứng tai, bớt lùng bùng, lỗ tai nghe rõ hơn.(Hình 18).

Ðộng tác 19 : Ðánh trống trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai lòng bàn tay ốp vào hai lỗ tai cho kín, ngón tay để lên xương chẩm.

Ðộng tác : Lấy ngón tay trỏ để lên ngón tay giữa rồi dùng sức bật cho ngón tay trỏ đánh mạnh vào xương chẩm, như "đánh trống trời" xương chẩm : tiếng vang rất lớn vì chuyền trực tiếp bằng con đường xương vào tai trong. Nếu muốn so sánh tai hai bên thì nên đánh so le coi bên nào tiếng tốt hơn. Ðánh độ 10 - 20 lần.

Tác dụng : Ðộng tác này để phòng bệnh và chữa bệnh ở tai trong. (Hình 19).

Ðộng tác 20 : Xoa xoang và mắt.
Hình ảnh
a- Xoa xoang: Chuẩn bị : Dùng 2 ngón tay trỏ và giữa của 2 bàn tay đặt lên phía trong lông mày.

Ðộng tác : Xoa vòng tròn từ phía trong lông mày ra phía ngoài xuống dưới gò má, vỏ mũi, đi lên phía trong lông mày và tiếp tục 10 - 20 lần, xoa các vòng có xoang xương hàm trên và xoang trán, xoa vòng ngược lại 10 - 20 lần. (Hình 20).

Tác dụng : Phòng và chữa bệnh viêm xoang.

b- Xoa mắt : Chuẩn bị : Nhắm mắt lại và đặt 2 ngón tay giữa lên 2 con mắt .

Ðộng tác : Xoa mi mắt trong vòng hố mắt vừa sức chịu đựng của mắt, xoa mỗi chiều 10 - 20 lần.

Tác dụng : Ðề phòng và chữa bệnh mắt : viêm mắt, các bệnh già về mắt. (Hình 20a).

c- Bấm huyệt chung quanh nhãn cầu :

Dùng ngón cái bấm huyệt phía trong và phía trên hố mắt và dùng ngón trỏ bấm huyệt phía ngoài và phía dưới hố mắt, có tác dụng giúp khí huyết lưu thông trong hố mắt.

Ðộng tác 21 : Xoa mũi.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Gồm 5 động tác :
a/ Dùng 2 ngón trỏ và giữa xoa mũi từ dưới lên và từ trên xuống cho ấm đều, đồng thời thở vô ra cho mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21, 21a).

b/ Ðể ngón tay chỗ giáp giới giữa xương mũi và xương sụn mũi, day huyệt độ 10 - 20 lần.(Hình 21b).

c/ Dùng ngón tay trỏ bên này áp vào cánh mũi bên kia, xoa mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21c).

d/ Dùng 2 ngón tay trỏ ấn mạnh vào huyệt Nghinh hương (ngoài cánh mũi, trên nếp má - môi) và day huyệt ấy độ 10 - 20 lần.(Hình 21d).

e/ Vuốt để lỗ mũi và bẻ đầu mũi qua lại. (Hình 21e).

Tác dụng : Làm ấm mũi và chữa các bệnh ở mũi.

Ðộng tác 22 : Xoa miệng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Xoa miệng để làm cho các cơ miệng, môi, má, cơ nhai, cơ cổ, cơ họng được tăng cường hoạt động, làm cho gương mặt tươi vui, lạc quan, chống gương mặt buồn rầu, bi quan...

Muốn được vậy, điều cần thiết là ta phải căng lên phía các cơ miệng, má, cổ, cơ da (muscle peancier) trước khi xoa thì mới có thể đổi trạng thái của mặt từ bình thường trở thành vui tươi, mà trạng thái vui tươi của mặt sẽ ảnh hưởng đến trạng thái của tâm thần, làm cho tâm thần ngày càng lạc quan. Dĩ nhiên trạng thái tư tưởng và tâm thần quyết định gương mặt, song ảnh hưởng ngược lại cũng cần lưu ý khi tập. (Hình 22, 22a, 22b).

Ðộng tác : Dùng bàn tay bên này xoa miệng và má bên kia, từ miệng đến tai và từ tai đến miệng, 10 - 20 lần rồi đổi bên. (Hình 22c, 22d).

Tác dụng : Phòng và chữa liệt mặt, sữa đổi gương mặt chủ động vui tươi.

Ðộng tác 23 : Xoa cổ.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Căng các cơ như trên, ưỡn cổ và mặt ngó lên trời, một bàn tay xoè ra, ngón cái một bên, 4 ngón kia một bên, đặt lên cổ.

Ðộng tác : Xoa lên xoa xuống từ ngực đến cằm và từ cằm đến ngực cho ấm đều; làm từ 10 - 20 lần. Ðổi tay và xoa như trên.

Tác dụng : Phòng và trị viêm họng, trị ho. Chỗ lõm trên xương ức là huyệt Thiên đột, có thể bấm thêm và day huyệt này.

Muốn bấm huyệt Thiên đột, phải cúi đầu xuống, co ngón trỏ lại thành lưỡi câu rồi móc huyệt Thiên đột về phía dưới dài theo xương ức và day huyệt ấy, không nên chọc thẳng đứng vào cổ, đụng đến khí quản sẽ gây phản xạ ho. (Hình 23, 23a).

Ðộng tác 24 : Ðảo lưỡi - Ðảo mắt
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Ðảo lưỡi trong miệng kết hợp với đảo mắt cùng một hướng, đồng thời dao động thân qua lại.

Ðảo theo vòng tròn từ 5 - 10 lần rồi đảo ngược lại, đồng thời dao động thân qua lại (Hình 24, 24a, 24b, 24c, 24d).

Ðộng tác 25 : Súc miệng - Ðánh răng
Hình ảnh
Súc miệng kết hợp với đảo mắt qua lại và đánh răng đồng thời dao động thân qua lại.

Ðưa một ngụm hơi vào miệng như một ngụm nước cho má phình lên rồi cho nó đảo từ má bên này sang má bên kia, kết hợp với đảo mắt cùng một hướng, đồng thời đảo xong thì gõ răng một lần. Ăn nhịp với động tác đảo thì dao động thân qua lại. Ðảo từ 10 - 20 lần. (Hình 25).

Ðộng tác 26 : Tróc lưỡi.
Hình ảnh
Ðưa lưỡi lên vòm họng và tróc lưỡi. Làm độ 10 - 20 lần.

Tác dụng : Tập cho lưỡi hoạt động linh hoạt, tránh nói năng khó khăn trong lúc tuổi già. (Hình 26 ).

Muốn cho động tác này có tác dụng, thì bụng dưới phải tham gia vào việc tróc lưỡi làm cho nó kêu to. Ðể kiểm tra, đặt tay vào bụng dưới, mỗi lần tróc lưỡi bụng dưới chuyển động rất mạnh.

Chú ý : Trong các động tác lưỡi, thường nước miếng (nước bọt) trào ra, ngừng động tác và nuốt nước miếng cho mạnh để tăng cường tiêu hoá và làm thông tai.

Ðộng tác 27 : Xem xa và xem gần.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngón tay của hai bàn tay gài tréo nhau và đưa lật ra trên trời, đầu bật ra đằng sau, mắt nhìn lên bàn tay ở 1 điểm cố định của một ngón tay để thấy rõ từng nét.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi và làm dao động tay, đầu thân qua lại từ 2 - 6 cái, mắt vẫn nhìn theo điểm cố định, thở ra triệt để, đồng thời đưa tay lại gần mặt độ 5cm mà vẫn cố nhìn rõ điểm cố định. Làm như thế 10 - 20 hơi thở.

Tác dụng : Luyện mắt, để giữ khả năng điều tiết của thuỷ tinh thể; chống viễn thị của tuổi già.

Ðộng tác 28 : Ðưa tay sau gáy.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay tréo nhau, đưa tay sau gáy và hết sức kéo ra sau, đầu bật ra sau.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động từ trước ra sau từ 2 - 6 cái : thở ra cho khí trọc. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 28).

Ðộng tác 29 : Tay co rút ra phía sau.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Tay co lại, rút ra phía sau, đầu bật ngửa và ưỡn cổ.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 29).

Tác dụng : Ðộng tác này tập cho vùng ngoan cố giãn ra và hết cứng, trở nên dẻo dai... Người khum lưng thì tập cho bớt khum lưng, làm cho lồng ngực hoạt động tự do hơn, ảnh hưởng tốt đến bệnh suyễn, tăng thêm dung tích sống.

Ðộng tác 30 : Ðè tay sau lưng và nghiêng mình.
Hình ảnh

Chuẩn bị : Hai bàn tay để ra sau lưng, càng cao càng tốt, lòng bàn tay lật ra phía ngoài, ngực ễn.

Ðộng tác : Ngả đầu nghiêng đụng giường, hít vô có trở ngại ngồi ngay lên và tiếp tục hít tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra và ngả đầu nghiêng đụng giường phía bên kia. Làm như thế từ 2 - 6 hơi thở. (Hình 30, 30a).

Ðộng tác 31 : Bắt tréo hai tay sau lưng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Một tay đưa ra sau lưng từ dưới lên, tay kia từ trên xuống và cố gắng bắt tréo nhau.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 1 - 3 hơi thở, xong đổi tay bắt tréo bên kia cũng làm từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 31)

Ðộng tác 32 : Tay chống sau lưng, ưỡn ngực.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay chống sau lưng, ngón tay hướng ra phía ngoài.

Ðộng tác : Bật ngửa đầu ra sau, ưỡn lưng cho cong, nẩy bụng đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 32).

Ðộng tác 33 : Ðầu sát giường lăn qua lăn lại.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay để lên đầu gối, cúi đầu cho trán đụng giường.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và lăn đầu qua lại từ 2 - 6 cái; mỗi lần lăn qua 1 bên, cố gắng ngó lên trần cho triệt để; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. Xong ngồi dậy. (Hình 33, 33a, 33b).

Ðộng tác 34 : Chồm ra phía trước, ưỡn lưng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Chống hai tay chồm ra phía trước và ưỡn lưng thật sâu.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi, làm dao động bằng cách ẹo xương sống qua một bên, rồi ẹo qua bên kia từ 2 - 6 cái, thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 34).

Ðộng tác 35 : Ngồi ếch.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Từ tư thế trên, ngồi bật ra sau, thân sát giường, cắm đụng chiếu, hai tay chồm ra trước.

Ðộng tác : Ngóc đầu dậy, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại thân đầu từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 35).

Ðộng tác 36 : Cúp lưng.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân ngay ra trước mặt, hai bàn tay để úp vào vùng lưng và xoa lên xoa xuống cho ấm cả vùng lưng. Có thể nắm tay lại xoa cho thật mạnh hơn, cho ấm đều. Xong để úp hai tay vào lưng, ở phía dưới đụng giường.

Ðộng tác : Cúp lưng thật mạnh, làm cho đầu và thân hạ xuống phía dưới, thở ra mạnh và hai bàn tay xoa vùng lưng từ dưới lên trên càng cao càng tốt; ngồi thẳng lên, hơi nghiêng ra sau, hít vô tối đa và đưa cả hai bàn tay xuống phía dưới vào vị trí cũ, đụng giường. Làm như thế 10 hơi thở, chà xát vùng lưng cho nóng ấm để chuẩn bị tập động tác khó hơn. (Hình 36, 36a).

Tác dụng : Làm cho lưng nóng lên, dẻo dai hơn, trị bệnh đau lưng.

Ðộng tác 37 : Rút lưng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Chân để thẳng trước mặt, hơi co lại cho 2 tay nắm được 2 chân, ngón tay giữa bám vào huyệt Dũng tuyền dưới lòng bàn chân (điểm nối liền 1/3 trước với 2/3 sau lòng bàn chân, không kể ngón chân), ngón tay cái bấm vào huyệt Thái xung trên lưng bàn chân ở phía trên kẽ xương giữa bàn chân thứ nhất (ngón cái) và xương bàn chân thứ nhì).

Ðộng tác : Bắt đầu hít vô tối đa trong tư thế trên, chân hơi co; rồi duỗi chân ra cho ngay và thật mạnh, đồng thời thở ra triệt để. Làm như thế từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 37, 37a).

Tác dụng : Làm cho lưng giãn ra, khí huyết lưu thông, trị bệnh đau lưng. Tay bấm vào huyệt Dũng tuyền điều hoà huyết áp; bấm huyệt Thái xung điều hoà chức năng gan.

Ðộng tác 37 bis : Nắm 2 bàn chân ở phía ngoài, ngón giữa và ngón cái vẫn bấm 2 huyệt trên. Làm động tác trên từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 37 bis, 37 bis a).

Ðộng tác 38 : Hôn đầu gối.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân khít lại ngay ra phía trước, hai tay nắm hai cổ chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; cố gắng hai tay kéo mạnh cho đầu đụng hai chân (hôn đầu gối) đồng thời thở ra triệt để; rồi ngửng đầu dậy hít vô; hôn đầu gối thở ra. Làm như thế từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 38, 38a).


Ðộng tác 39 : Chân để trên đầu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân ngay ra trước, hai tay nắm 1 chân để trên đầu.

Ðộng tác : Hạ đầu xuống đụng đầu gối, thở ra triệt để; ngẩng đầu lên, hít vô tối đa. Làm như vậy từ 3 - 5 hơi thở rồi để chân xuống. Ðổi chân bên kia và cũng tập như thế. (Hình 39).

Tác dụng : Ðộng tác hôn đầu gối và để chân lên đầu vận chuyển rất mạnh các khớp xương sống ở cổ, lưng, thắt lưng, các khớp háng, gối và cổ chân và vận động ở vùng bụng, làm giảm cả toàn thân. Trị các bệnh ở các khớp, chứng bệnh đóng vôi, mọc nhành, làm cho khí huyết lưu thông đến tận cùng, trị được bệnh thần kinh toạ, chống mọi xơ cứng.

Phải tập từ từ cho các khớp quen giãn ra dần dần, đừng nóng vội mà bị cụp lưng sai khớp. Người nào già quá xin miễn làm, coi chừng gãy xương, nếu nóng vội.

Ðộng tác 40 : Ngồi xếp chè he, chống tay phía sau, nẩy bụng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he, hai chân bẹt ra phía ngoài, chống tay sau lưng, đầu ngón tay hướng ra phía ngoài.

Ðộng tác : Nẩy bụng, cong lưng, đầu bật ra phía sau, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác này từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 40).Ðộng tác 41 : Ngồi xếp chè he, cúi đầu ra phía trước đụng giường.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he,hơi nghiêng về phía sau và ưỡn lưng, hai tay nắm hai cẳng chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu xuống đụng giường. Ngồi dậy , hít vô tối đa và tiếp tục làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 41, 41a).

Tác dụng : Cũng như các động tác trên đối với các khớp xương sống và háng, đặc biệt là khớp cổ chân và cườm chân ít bị trặc.

Ðộng tác 41 : Ngồi xếp chè he, cúi đầu ra phía trước đụng giường.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he,hơi nghiêng về phía sau và ưỡn lưng, hai tay nắm hai cẳng chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu xuống đụng giường. Ngồi dậy , hít vô tối đa và tiếp tục làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 41, 41a).

Tác dụng : Cũng như các động tác trên đối với các khớp xương sống và háng, đặc biệt là khớp cổ chân và cườm chân ít bị trặc.

Ðộng tác 42 : Quì gối thẳng, nắm gót chân.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Quì gối thẳng, chống tay lên và nắm gót chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động từ 2 - 6 cái theo hướng trước sau; thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 42).

Tác dụng : Ðộng tác này ưỡn thắt lưng tới mức tối đa và làm cho bụng dưới căng thẳng. Chống bệnh đau lưng và bụng phệ.

Ðộng tác 43 : Ngồi thăng bằng trên gót chân.

Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi thăng bằng trên gót chân, hai tay để xuôi theo mình.

Ðộng tác : Ðưa hai tay ra phía trước, lên trên, ngang ra hai bên và đằng sau, đồng thời thở thuận chiều và triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 43, 43a, 43b, 43c).

Biến thể : Những người khoẻ còn có thể nhún mông từ 2 - 6 cái trong thời gian đưa tay lên và giữ hơi. Người yếu sức tập ngồi thăng bằng và thở.

Tác dụng : Tập cho bộ óc điều khiển thân thể ngồi được thăng bằng trên mấy ngón chân là việc khó, còn nếu nhắm mắt lại, mất sự kiểm tra bằng mắt lại càng khó hơn. Làm chậm quá trình già nua.

Ðộng tác 44 : Ði thẳng mông.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi lưng sát phía thành giường, hai chân đưa ra phía trước.

Ðộng tác : Dùng phần xương u ngồi của xương chậu thay phiên nhau nhắc thân đi tới thanh giường phía bên kia. Thở sâu tự nhiên mỗi khi nhấc thân tới trước. Có thể đi tới rồi đi lui. (Hình 44, 44a).

Tác dụng : Vận chuyển khớp xương vùng chậu (sucrolliaque) và khớp xương mu, các cơ dính liền với xương chậu làm cho khí huyết lưu thông ở vùng chậu, phòng và trị các bệnh ở vùng chậu và bụng dưới.

Biến thể : Chuẩn bị : Hai chân đưa ra trước, 2 tay chống nạnh.

Ðộng tác : Lắc thật mạnh hai tay (tay này ra trước thì tay kia ra sau thay phiên nhau) làm cho khớp xương vùng chậu chuyển động. Ðộng tác này làm tại chỗ không di động. Thở tự nhiên. Làm như thế độ 15 giây đến 1 phút.(Hình 44b, 44c).

Ðộng tác 45 : Ngồi trên chân, kiểu viên đe.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi trên hai chân xếp lại, hai ngón chân cái đụng vào nhau, lưng thẳng hơi ưỡn ra phía sau, hai bàn tay để tự nhiên trên hai vế.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; trong thời giữ hơi, dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu đụng giường, ép bụng đẩy hết hơi trọc ra ngoài. Làm như vậy từ 10 - 20 hơi thở. (Hình 45, 45a).

Tác dụng : Ngồi kiểu viên đe rất thoải mái, thở chú ý ép bụng dưới, càng thở càng tốt. Phòng và chữa các bệnh ở hộ sinh dục, di tính, liệt dương.

Ðộng tác 46 : Cá nằm phơi bụng.
Hình ảnh

Chuẩn bị : Từ tư thế ngồi kiểu viên đe, nhờ tay giúp nằm ngửa ra, dựa trên đỉnh đầu, lưng cong hổng giường, hai tay để xuôi ôm hai gót chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 46).

Tác dụng : Ngoài tác dụng chung, động tác này mới làm dễ bị chóng mặt nếu bật đầu quá nhiều ra đằng sau, nếu bật ít sẽ không chóng mặt. Làm quen rồi giải quyết được bệnh chóng mặt.

Ðộng tác 47 : Nằm ngửa ngay chân, khoanh tay ngồi dậy.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa ngay chân, khoanh tay để trên đầu.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, đưa hai tay xuống để trên ngực, cố gắng từ từ ngồi dậy; cúi đầu xuống hết sức ép bụng thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 47).

Tác dụng : Vận chuyển mạnh các cơ, một đầu bám vào cột sống thắt lưng, một đầu bám vào xương chậu và xương đùi, làm cho các cơ ấy càng càng mạnh thêm lên, làm cho khí huyết vùng thắt lưng và vùng chậu, bệnh phụ nữ, bệnh bộ sinh dục, bệnh táo bón, bệnh viêm cơ thắt lưng - chậu - đùi (psoetis).

Ðộng tác 48 : Xoa tam tiêu.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Tam tiêu chia cơ thể làm ba vùng : vùng bụng dưới (hạ tiêu) vùng bụng trên (trung tiêu) và vùng ngực (thượng tiêu). (Hình L).

- Ở vùng bụng dưới có bộ sinh dục, bọng đái, ruột già, ruột non, đảm rối thần kinh hạ vị.

- Ở vùng bụng trên có dạ dày, ruột non, tuy tang (lá mía) đám rối thần kinh, gan và lách.

- Ở vùng ngực có tim, phổi, đám rối thần kinh tim và phổi.

Xoa hạ tiêu : một tay nắm lại, tay kia úp lên trên để giúp sức. Xoa vòng theo một chiều 10 - 20 lần và ngược lại cũng 10 - 20 lần tuỳ sức, thở tự nhiên. (Hình 48).
Xoa trung tiêu :

a/ Tay nắm lại, tay kia úp lên trên để giúp sức, xoa 10 -20 lần mỗi chiều. Thở tự nhiên. (Hình 48a).

b/ Vuốt từ vùng xương sườn cụt theo bờ sườn đến vùng mỏm xương ức, thay phiên nhau mỗi bên 10 - 20 lần. (Hình 48b, 48c). Có ảnh hưởng đến gan mật và lá lách.

Xoa thượng tiêu : Ðặt bàn tay ngay ra úp lên ngực, bàn tay kia úp chồng lên, hai cánh tay ốp vào lồng ngực rồi xoa vòng tròn theo một chiều 10 - 20 lần rồi đổi theo chiều ngược lại 10 - 20 lần. (Hình 48d, 48e). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 49 : Xoa vai tới ngực.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
Mỗi vùng xoa từ vai tới ngực độ 10 - 20 lần. Bàn tay úp lại, các ngón tay ngay ra mà xoa đi lần lần từ ngoài vai tới trong cổ. Thở tự nhiên.

Chú ý huyệt Ðại chuỳ là một huyệt hội rất quan trọng ở dưới gai đốt sống cổ thứ 7. (Hình 49, 49a, 49b, 49c).

Ðộng tác 50 : Xoa vùng bã vai dưới tới ngực.

Hình ảnhHình ảnh
Bàn tay một bên luồn dưới nách ra tới bã vai sau, rồi từ bã vai xoa mạnh rồi kéo qua tới vùng ngực. Thay phiên nhau xoa từ vai tới ngực 10 - 20 lần. Thở tự nhiên. (Hình 50, 50a).

Ðộng tác 51 : Xoa vòng ngực, thân bên và bụng.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Lấy tay bên này luồn dưới nách qua bên kia tới tận phía sau lưng; đầu, thân mình cũng quay hẳn sang phía ấy rồi vuốt ngang qua vùng ngực đến bên này, đồng thời đầu, thân mình cùng quay theo đến cực độ về hướng đó, cổ và mắt cố gắng ngó cực độ phía sau lưng. Ðổi tay và cùng làm động tác y như vậy, dần dần từ trên ngực hạ thấp từng mức đến bụng dưới, mỗi chỗ từ 5 - 10 lần. (Hình 51, 51a, 51b, 51c). Cuối cùng vuốt bụng từ dưới lên trên 5 - 10 lần (Hình 51d). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 52 : Xoa chi trên, phía ngoài và trong.
Hình ảnh
Tư thế ngồi như trước, xoa phía ngoài vùng vai, vùng cánh tay, cẳng tay và bàn tay, trong lúc bàn tay để úp (Hình 52, 52a), xong lật ngửa bàn tay, tiếp tục xoa phía trong từ bàn tay lên cẳng tay, cánh tay, vai (Hình 52b) độ 10 - 20 lần rồi đổi tay xoa bên kia. Thở tự nhiên.

Ðộng tác 53 : Xoa chi dưới, phía trên và dưới.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Hai tay để lên 4 bên đùi, xoa từ trên xuống dưới của phía trước đùi và cẳng chân tới mắt cá, trong lúc chân dần dần giơ cao (Hình 53, 53a, 53b).

Rồi hai tay vòng ra phía sau cổ chân, tiếp tục xoa phía sau từ dưới lên tới đùi, trong lúc chân từ từ hạ xuống. Tay trong vòng lên phía trên đùi, tay ngoài vòng ra phía sau, xoa vùng mông để rồi vòng lên phía trên cùng với bàn tay trong tiếp tục xoa như trên từ 10 - 20 lần. (Hình 53c, 53d, 53e). Bên kia cũng xoa như thế. Thở tự nhiên.

Ðộng tác 54 : Xoa bàn chân.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
a/ Xoa lòng bàn chân; hai lòng bàn chân xoa mạnh cha sát với nhau độ 10 - 20 lần (Hình 54, 54a). Thở tự nhiên.

b/ Xoa phía trong bàn chân; phía trong bàn chân bên này để lên phía trong của bàn chân bên kia, chà xát từ trên xuống và từ sau ra trước, tự nhiên bàn chân bên kia nằm trên phía trong bàn chân này, chà xát như trên và thay đổi nhau từ 10 - 20 lần. (Hình 54b, 54c).

c/ Phía ngoài bàn chân bên này chà lên mu bàn chân bên kia chà tới chà lui 10 - 20 lần rồi đổi chân chà như trên 10 - 20 lần (Hình 54d, 54e). Thở tự nhiên.

Tới đây đã xoa xong chi trên và chi dưới.

Trên đây ta tập xong ở tư thế ngồi thông chân và đã xoa khắp cơ thể trừ vùng đáy chậu. Bây giờ ta đứng dậy để tiếp tục tập.

Ðộng tác 55 : Dang hai chân ra xa, nghiêng mình.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Chân đứng dang ra xa, hai tay buông xuôi.

Ðộng tác : Thở bằng vai rút lên cao, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động bằng cách nghiêng mình một bên, tay bên ấy vuốt chân từ trên xuống tận măt cá ngoài, tay bên kia vuốt hông từ đùi đến nách; rồi nghiêng mình qua bên kia cùng tay vuốt như trên; làm dao động từ 2 - 4 cái, xong đứng thẳng, thở ra triệt để. Làm như vậy từ 2 - 6 hơi thở. (Hình 55, 55a).

Tác dụng : Ngoài tác dụng trên cột sống, vận chuyển mạnh khí huyết trong lá gan và lá lách, phổi; phòng và chữa bệnh gan lách, thiếu năng phổi.

Ðộng tác 56: Xuống tấn lắc thân.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị: Xuống tấn là hai chân để song song với nhau, hoặc một tí như hình chữ nhân và cách xa nhau bằng khoảng cách hai vai hay lớn hơn 1 tí, gối rùn xuống nhiều hay ít tuỳ sức của mình (yếu thì rùn ít, mạnh thì rùn nhiều), hai tay tréo nhau và lật bàn tay ra ngoài, đua tay lên trời, đầu bật ra sau và ngó theo tay.

Ðộng tác: Hít vô tối đa; giữ hơi dao động, thân lắc qua bên này thì tay lắc qua bên kia để giữ quân bình, lắc như thế 2-6 cái; để tay xuống thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 3-5 hơi thở (Hình 56, 56a, 56b, 56c).

Tác dụng: Ðộng tác này là động tác dao động điển hình của toàn thân từ chân đến đầu, và tận đến ngón tay, chân. Giúp cho toàn tân dẻo dai, linh hoạt, khí huyết lưu thông.

Ðộng tác 57 : Xuống tấn, xoa vùng đáy chậu.
Hình ảnh Hình ảnh
a/ Tư thế xuống tấn, hai tay ở phía trước, một tay lòn xuống phía đáy chậu, tận đến phía sau rồi miết vào vùng hậu môn và đáy chậu, đồng thời mím đít cho cơ năng hậu môn co thắt; đổi tay cũng xoa như trên, thở tự nhiên. Xoa như thế từ 6 - 10 lần (Hình 57, 57a).

b/ Hai tay đưa ra phía sau, một tay lòn xuống đáy chậu tận đến phía trước và xoa từ trước ra sau như trên. Ðổi tay xoa như bên kia. Xoa như thế từ 6 - 10 lần. (Hình 57b, 57c).

Tác dụng : Vùng đáy chậu là vùng khi huyết ứ trệ, vệ sinh sạch sẽ chưa được chú ý đúng mức nên sinh ra nhiều bệnh : bệnh bọng đáy (đái són, đái rắc, sa bọng đái), bệnh tuyến tiền liệt (phì đại lúc già), bệnh trực tràng (trĩ, sa trực tràng), bệnh bộ sinh dục (sa tử cung). Việc xoa vùng đáy chậu và rửa sạch vùng ấy làm cho khí huyết lưu thông, các cơ hoạt động tốt sẽ phòng và giúp trị được các bệnh trên.

Ðộng tác 58 : Quay mông.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân thẳng, cách nhau một khoảng bằng hai vai, hai tay chống nạnh.

Ðộng tác : Quay mông ra phía sau, phía bên này, phía trước, phía bên kia, rồi phía sau, như thế 5 - 10 vòng; rồi đổi sang hướng ngược lại cũng 5 - 10 vòng. Thở tự nhiên.

Tác dụng : Chống xơ cứng cho khớp háng, khớp hông, khớp mu.(Hình 58, 58a,58 c, 58d).

Ðộng tác 59 : Sờ đất vươn lên (Ðộng tác Ăng-tê) (Antéc).
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân, hai gót khít nhau, hai tay chụm vào nhau, cúi đầu, tay đụng đất.

Ðộng tác : Ðứng thẳng dậy, đưa hai tay lên trời ra phía sau hết sức, ưỡn lưng, động thời hít vô tối đa; giữ hơi hai tay vẫn chụm vào nhau, làm dao động hai tay và đâu qua lại; từ từ tách hai tay ra, đưa xuống phía sau, thở ra, rồi đưa tay ra phía trước chụm tay lại, cúi đầu, hai tay sờ đất, thở ra triệt để, làm như vậy từ 2 - 4 hơi thở (Hình 59, 59a, 59b, 59c).

Tác dụng : Ðộng tác này kêu là "Sờ đất vươn lên" hay "động tác Ăng - lê" vì thần Ăng - lê có mẹ là đất nên chỉ sờ đất là lấy sức lại. Nếu cột sống ta tập dẻo dai, sờ đất được, rút được điện dưới đất, thì sức sẽ vươn lên, hít ôxy của khí trời thì càng vươn lên hơn nữa. Làm động tác này phải chụm hai tay lại cho lồng ngực bung ra hai bên lúc đưa tay lên để tăng dung tích sống và giải phóng các khớp xương sườn, cột sống, xương ức. Người cao huyết áp không tập động tác này.

Ðộng tác 60 : Xuống nái nửa vời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ðứng cách tường 25cm, 30cm hai chân cách nhau 25cm, đầu bật ngửa ra chấm vào tường, hai tay chịu lên tường lần lần đưa đầu và hai tay xuống thấp, càng thấp càng tốt song cũng không quá sức, làm cho cột sống lưng phía trên (vùng ngoan cố) cong ra phía sau ở tư thế "xuống nái nửa vời" (xuống nái trọn vẹn thì tay chống dưới đất, người già làm không nổi và nguy hiểm).

Ðộng tác : Hít vô tối đa; trong lúc giữ hơi, dao động cái mông qua lại; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 60).

Tác dụng : Sửa cột sống vùng ngoan cố, tật khum lưng và cứng khớp sống - xương sườn để giải phóng lồng ngực, làm cho nó hoạt động tự do, ảnh hưởng đến bệnh hen suyễn.

Ðộng tác 61 : Ðưa quả tạ đôi lên trên và đằng sau.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân. Nắm chặt hai quả tạ trong hai tay (nặng vừa sức, độ 1kg - 1,5kg mỗi quả).

Ðộng tác : Ðưa hai tay thẳng lên đằng trước và lên trên, cố gắng đưa ra phía sau càng nhiều càng tốt, hít vô tối đa; giữ hơi, dao động trước sau từ 2 - 6 cái; đưa hai tay ra đằng trước, hạ tay xuống đưa ra phía sau, càng xa càng tốt, đồng thời thở ra triệt để, cố ép bụng thật mạnh, càng cố gắng đưa tay ra phía sau thì ép bụng càng mạnh; giữ tư thế ép bụng triệt để 2 - 3 giây. Làm động tác như thế 2 - 5 hơi thở.

Tác dụng : Ðộng tác này giúp thót bụng dưới rất mạnh, rất hữu ích cho những người bụng phệ, bụng nhão. (Hình 61, 61a).

- Có thể làm thêm động tác đưa tay ra hai bên.

Ðộng tác 62 : Cây gậy.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân, hai tay nắm cây gậy để ngang sau vai.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi, đưa tay lên càng ra sau nhiều càng tốt (tỉ như có cây gậy khác cài đứng sau lưng kềm chế), dao động hai tay trước sau từ 2 - 6 cái; đưa hai tay xuống vời cây gậy về chỗ cũ, thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 62, 62a).

Tác dụng : Ảnh hưởng đến vùng ngoan cố, đến bệnh hen suyễn. Biến thể : Hít vô tối đa; giữ hơi, dao động nghiêng qua, nghiêng lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở.

Ðộng tác 63: Treo xà đơn
Hình ảnh
Sắm 1 xà đơn đừng cao lắm, vừa hổng chân người tập, treo ở khung cửa phòng ngủ để tập mỗi ngày. Nhảy lên nắm xà đơn và treo thân mình từ 1-3 phút, tập cho cột sống có dịp giăn ra, do sức nạng của thân, kéo ra, đòng thời tập cho tay có sức mạnh.

Nếu có sức thì rút thân mình lên 1-3 lần để đo sức mạnh. Có thể uốn thân mình công ra phía trước và phía sau từ 5-10 lần mà không xích đu. Có thể lắc thân mình qua lại do hai tay kéo qua kéo lại từ 4-10 lần cho hai tay tăng sức mạnh. Có thể đưa hai chân tahnhf thước thơ đối với thân mình để luyện tập các bắp thịt thắt lưng, dây chậu và đùi. Trong lúc treo, thở tối đa và triệt để.

Lúc xuống nếu xà đơn treo quá cao thì phải có ghế nâng xuống nhẹ nhàng, không nhảy mạnh để tránh đốt xương sống bị sức năng dồn ép, mất hết tác dụng của đọng tác treo.(Hình 63)

Tác dụng: Ðộng tác này giúp hai tay làm chủ đước sức nặng của toàn thân, làm cho thân thể giãn ra không bị bắp thịt co rút triền miên trong tư thế đứng. Có thể bị bệnh chuột rút (vọp bẻ) ở tay của người viết văn hoặc nghệ sĩ đàn dương cầm.

Thể dục trợ luân:

Đạt Ma Dịch Cân Kinh: chữa nhiều bệnh khó trị

SỰ TÍCH ĐẠT MA DịCH CÂN KINH

Năm 917 (sau Tây lịch), Đạt Ma Tổ Sư từ Ấn Độ sang Trung Quốc thuyết pháp và truyền giáo, sau ở lại Trung Sơn, Hà Nam, xây dựng chùa Thiếu Lâm, đã có nhiều đệ tử nhập môn học Phật để mai sau đi truyền giáo. Ông nhận thấy nay đem một tín ngưỡng đi truyền tụng có khi trái với tín ngưỡng của dân bản xứ, dễ xảy ra xung đột. Do vậy các đệ tử của ông vừa lo học lý thuyết Phật Pháp vừa phải luyện võ để tự vệ (Môn phái Thiếu Lâm xuất hiện và tồn tại đến ngày nay).

Nhiều người xin nhập môn nhưng thể lực kém, không thể luyện võ được, Tổ Sư bèn truyền đạt một phương pháp luyện tập được gọi là Đạt Ma Dịch Cân Kinh để chuyển biến thể lực yếu kém thành mạnh khỏe. Cách tập đơn giản nhưng hiệu quả to lớn vì tiêu trừ được các bịnh tật hiểm nghèo.


Ngày nay người ta nghiên cứu là phương pháp này chữa được rất nhiều bịnh, ngay cả bịnh ung thư cũng khỏi và bây giờ người ta áp dụng lý thuyết


Trong Đông y, cái gọi là huyết thì không thể hạn chế và tách ra từng mặt như máu loãng hay đặc, hồng cầu nhiều hay ít, sắc tố như thế nào...mà nghiên cứu, mà dùng cách nhìn nhận toàn diện của quá trình sinh lý và quá trình tuần hoàn của huyết mà xem xét. Theo Đông y, một khi khí huyết không thông là tắt kinh lạc, do vậy các phế vật trong cơ thể cần thải mà không thải ra được. Vì máu lưu thông chậm, nên các chất keo, dịch, gân và các chất khô... không đủ nhiệt năng nên công năng của máu giảm sút không thể thải được những chất cần thiết trong cơ thể ra ngoài.


Luyện Dịch Cân Kinh, tay vẫy đúng phép, miệng, dạ dày mở, máu mới sinh ra nhiệt năng đầy đủ, làm các vật chèn ép mất thăng bằng trong cơ thể bị xóa bỏ thì mới khỏi bịnh.


Vậy theo Dịch Cân Kinh,
cơ hoành
lên xuống dễ dàng, ruộtdạ dàythận tiếp được khí nên gây được tác dụng hưng phấn. Khi chức năng của máu tăng, thì giúp được việc tống cựu nghinh tân tốt, khí huyết thăng bằng là khỏi bịnh. Một số người sau đây đã luyện tập Dịch Cân Kinh có hiệu quả:


Nguyên nhân bịnh ung thư trên thế giới đang bàn cãi, ngay thuốc dưỡng tâm can cũng không phải là thuốc đặc hiệu chữa trị mà là giúp tim hoạt động tốt để thải chất độc.

Vì quá trình sinh lý cơ thể của con người là một quá trình phát triển, nó mang một nội dung đấu tranh rất phức tạp giữa cái sống và sự chết. giữa lành mạnh và bịnh tật, giữa già háp và trẻ dai. Nhưng kết quả cuộc đấu tranh là các nhân tố nội tại quyết định chớ không phải do hoàn cảnh bên ngoài.

Vậy cơ thể con người là một chỉnh thể hoạt động. Trong vận động các lục phủ ngũ tạng đều dựa vào nhau tức là tương sinh, ức chế lẫn nhau tức là tương khắc. Nhưng khí huyết có tác dụng đến khắp tất cả các lục phủ ngũ tạng, cho nên việc phát sinh bịnh ung thư cũng do khí huyết lưu thông không chu đáo mà ra. Đông y đã xác định là cuộc đấu tranh của cơ thể với bịnh ung thư là một cuộc đấu tranh nội bộ ở trong cơ thể con người. Từ đó mà xây dựng quan điểm cho rằng bịnh ung thư là bịnh chữa được.

Đương nhiên bịnh tật là do sự
trì trệ khí huyết
mà nó làm cho hao tổn thêm khí huyết. Vậy công việc luyện tập cho khí huyết thay đổi là tự chữa được bịnh. Từ đó mà tạo được lòng tin vững chắc của người bịnh đối với việc tự chữa được bịnh ung thư, để tập trung tinh thần và ý chí đầy đủ để luyện tập Đạt Ma Dịch Cân Kinh, vì phương pháp này thay đổi và tăng cường khí huyết. Nó cũng chữa được bịnh trĩ nội và trĩ ngoại. Ông Hà Thúc Nguyên bị trĩ nội và chứng đầy bụng, chỉ tập một tháng là khỏi. Luyện tập Dịch Cân Kinh thấy ăn tốt ngủ ngon là việc phổ biến tốt, đã làm tăng sức khỏe các bịnh nhân nói chung và chữa được nhiều chứng bịnh như : suy nhược thần kinh, cao huyết áp, bịnh tim các loại, bán thân bất toại, bịnh thận, hen suyễn, lao phổi, trúng gió méo mồm và lệch mắt.

Đông y cho rằng vấn đề cơ bản của bịnh tật là do khí huyết (âm, dương) mất thăng bằng mà sanh ra. Luyện Dịch Cân Kinh là giải quyết vấn đề này. Nên đối với đa số các loại bịnh, nhất là bịnh mãn tính đều có thể chữa được cả.
khí huyết
của Đông y để chứng minh. Sức khỏe của con người liên quan chặt chẽ với khí huyết, về điều này thì ta thấy rõ ràng.

 

 

Trước hết cần phải tập trung tư tưởng: Lạc quan và Tự tin. Không vì lời bàn ra tán vào mà bỏ dở.

Phương pháp tập luyện:

1.- Đứng thẳng, mặt hướng về một điểm phiá trước. Không nghĩ ngợi lung tung. Miệng nhẩm đếm theo từng cái đánh tay. Hai bàn chân song song bằng khoảng cách hai vai.
2.- Hai môi chạm nhẹ vào nhau, không hở mà cũng không mím hẳn. Hai hàm răng chạm nhẹ vào nhau. Đầu chót lưỡi để trên nướu răng (để luồng điện thông thương).
3.- Đầu treo trên cổ, tức là xương cổ buông lỏng chứ không gồng cứng (khi tập cổ bị đau vì ta gồng).
4.- Hai cánh tay để mềm nhưng thẳng. Các ngón tay duổi ra áp vào nhau. Bàn tay ngửa ra phiá sau. Toàn bộ hai cánh tay giống như hai mái chèo gắn vào vai.
5.- Lưng thẳng, bụng trên để mềm nhưng co lại. Bụng dưới thót vào. Hậu môn nhíu mạnh lên cho chặt. Xương sống thẳng như khúc gỗ.
6.- Hai chân trong trạng thái căng thẳng.
7.- Hai bàn chân song song (để chân không hoặc đi dép cũng được). Ngón chân để mềm tự nhiên, nhưng mười đầu ngón chân phải bấm xuống đất mạnh như ta đang đứng trên đất trơn, cần phải bấm cho khỏi ngả (sau khi tập xong mười đầu ngón chân bị đau; nên dùng tay vân vê, xoa bóp sẽ hết).

Như vậy từ hoành cách mô trở lên thì thả lỏng (buông thả) thảnh thơi theo thế Thượng Hư chỉ dùng 3 phần khí lực mà thôi. Từ hoành cách mô trở xuống, co thắt, gồng cứng người đứng tư thế Tấn, theo thế Hạ Thức dùng 7 phần khí lực. Có thể nói là Thượng tam, Hạ thất; nói các khác, các thế trên hợp với quy luật vũ trụ là thiên khinh, địa trọng (trên nhẹ dưới nặng). Khi tập không để ý đến ý nghĩ nầy thì không có kết quả.

 

 

Khi chuẩn bị tư thế xong là bắt đầu tập, nhớ giữ đồng bộ tư thế, đánh hai tay về phiá sau (khoảng 60 độ). Còn khi trả lại tùy về phiá trước, thì không dùng sức, cứ để buông theo quán tính (chừng 30 độ về phiá trước). Về tốc độ, trung bình 1 phút 60 cái (tương đương 60 giây). Đánh tay xin hiểu theo nghiã nầy. Đây là môn thể dục mềm dẻo, chứ không dùng sức. Nhưng vẫy nhẹ quá cũng không tốt, vì nếu hai bắp vai không chuyển động đủ mức, tác động sẽ giảm đi nhiều (như vậy không mạnh mà cũng không nhẹ). Đánh tay cố chuyển động. Đánh tay lúc đầu 200 cái hoặc 300 cái. Sau khi nhuần nhuyễn sẽ tăng dần, mỗi ngày phải đạt tới 800 cái. Người bịnh phải đánh tới 1800 cái (30 phút) mới tới ngưỡng cửa điều trị. Có người bịnh nặng phải đánh tới 5000 cái mỗi ngày. Mỗi ngày có thể chia ra một, hai, hay ba lần (sáng, trưa, tối)

Nói chung, tự mình nhận thức về tình hình khỏe yếu bịnh tật của mình rồi định liệu cách tập. Cứ làm sao cảm nhận được sự chuyển biến trong cơ thể theo chiều hướng tốt là tập đúng cách. Tức là bụng nhẹ nhàng, ăn ngủ ngon, đại tiểu tiện đều, tinh thần tỉnh táo rỏ ràng hơn trước. Còn nếu không thì hãy xem lại cách tập của mình có đúng và đủ chưa.

Luyện Dịch Cân Kinh đạt được 4 tiêu chuẩn sau:

Nội trung: Tức là nâng cao can khí lên, then chốt là điều chỉnh tạng phủ. Lưu thông khí huyết, khí sẽ thông suốt lên đến đỉnh đầu.
Tứ trưởng tố: Tức là tứ chi phối hợp với các động tác theo đúng nguyên tắc luyện tập. Tứ trung song song với nội trung sẽ làm cho tà khí bài tiết ra ngoài, trung khí dồn xuống, cơ năng sinh sản ngày càng mạnh.
Ngũ tam phát: Nghiã là 5 trung tâm của huyệt dưới đây hoạt đông mạnh hơn lúc bình thường. Đó là: - Bách hội: một huyệt trên đỉnh đầu. – Lao cung: huyệt ở hai lòng bàn tay. – Dũng tuyền: huyệt ở hai gan bàn chân. Khi luyện tập, 5 huyệt nầy đều có phản ứng, làm thông suốt Nhâm Đốc và 12 kinh mạch đạt tới hiệu quả, làm tăng cường sức đề kháng, tiêu trừ các bệnh nan y mà ta không ngờ.
Lục phủ minh: Đó là ruột non, ruột già, mật, dạ dày, bong bóng, tam tiêu sẽ thông suốt, nghiã là không trì trệ. Lục phủ có nhiệm vụ thâu nạp thức ăn, tiêu hóa, bài tiết được thuận lợi. Nếu không bị trì trệ, ứ đọng, cơ năng sinh sản có sức tiếp, giữ vững trạng thái bình thường của cơ thể tức Âm Dương thăng bằng, cơ thể thịnh vượng.

Các động tác:

Các động tác sau đây được giữ nguyên từ đầu cho đến chấm dứt                                                             buổi Thể dục trợ luân:
Co lưỡi: Chót lưỡi co lên chạm nướu và chân răng hàm trên.
Răng cửa hàm trên và răng cửa hàm dưới cắn nhẹ với nhau.
Miệng ngậm: bình thường
Mắt nhắm: Ý nhìn thẳng về phía trước từ điểm giữa hai chân mày còn gọi là ấn đường

Người có máu cao, máu có đường, tim yếu - Tập như lời dặn.
Người có phong thấp, đau nhức - Tập mạnh hơn.
Tập vào lúc 5 tới 7 giờ chiều, khoảng thời gian nầy rất tốt.

Xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân là một trong nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, là xu hướng được ưa chuông của thế giới hiện nay. Ta có thể tự chẩn đoán và chữa trị được một số bệnh thông thường.

Thầy thuốc hay nhất là chính mình.

NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý . (nên đọc thật kỹ trước khi tập)

• Phải luôn kiểm tra : hai bàn chân song song - bấu 10 ngón chân - gồng cứng cơ mông - cơ đùi - nhíu hậu môn.

• Hai tay luôn thả lỏng - khi bắt đầu tập, đánh chậm và nhẹ vài chục lần, sau đó đánh mạnh và nhanh.

Tuần lễ đầu, mỗi lần tập là 180 cái thôi = 3 phút (tay ra trước là đếm). Từ ngày thứ 8 trở đi, mỗi ngày tăng thêm 1 phút, tăng cho đến khi đạt tới 30 phút = 1.800 lần/1 lần tập (1 nhịp đánh tay = tay ở trước đánh ra sau, rồi trở về lại trước = 1 giây), và cứ giữ như vậy đến suốt đời. Đối với những người bệnh nặng như ung, bướu... thì có thể đánh 3000 - 4000 lần/60 phút/1 lần tập, 2-3 lần/ 1 ngày.


* Lưu ý : Khi tập, nếu thấy chân tê, 2 bàn chân nóng rang, thì không gồng nữa. Khi nào thấy chân hết tê, thì gồng trở lại. Xin chia sẻ với ông bà và anh chị em một kinh nghiệm : Để tránh mau tê chân, trước khi tập, nên ngồi nửa tiếng hoặc hơn nữa, sau đó, mình đứng tập thì ít bị tê chân hơn.

• Thở bình thường ( không để ý tới hơi thở).

• Nhớ ấn đầu lưỡi vào gờ răng và thường nuốt nước miếng vào.

• Tâm trí không được suy nghĩ vẩn vơ, phải tập trung vào việc đếm số lần đánh tay và kiểm tra các cơ chân và việc nhíu hậu môn. Nếu việc đếm số lần đánh tay làm cho mình bị rối, nghĩa là nhớ trước quên sau thì không cần phải đếm nữa, canh giờ theo đồng hồ cũng được. Ngoài ra, đang khi tập mình có thể nghe nhạc nhẹ, thánh ca, v.v..

• Khi tập, vai - lưng - ngực - bụng phải giật mạnh lên thì mới có khả năng loại thải các chất độc để trị bệnh, nếu không thì không có hiệu quả. Theo kinh nghiệm, trong 1-2 tuần đầu, vai, hông có thể đau, đừng sợ, cứ tiếp tục tập sẽ hết đau.

• Trong ngày, có thể tập được 4 lần, tối thiểu phải 2 lần (1.800 lần = 30 phút/1 lần tập). Khi tập mặt xoay theo hướng mặt trời (dù tập trong phòng riêng). Tối, quay mặt hướng Nam. Nhớ luôn luôn : tập khi bụng đói. Uống nửa (½) lít nước ngay trước khi tập. Ăn xong, 2 tiếng rồi sau mới được tập. Tập xong, nửa (½) giờ sau mới được tắm, mới được làm việc trên máy vi tính, chơi game. Khi đang tập hoặc tập xong mà cảm thấy mệt là tập sai hoặc tập quá sức mình, nên xem lại tài liệu thật kỹ (phần: "Những điều cần lưu ý") hoặc báo cho tôi biết để chỉnh lại cho đúng. Nếu tập đúng và vừa sức mình, thì khi tập xong, cảm thấy khỏe hơn nhiều so với lúc chưa tập, và ăn ngủ rất ngon.

• Trong mỗi lần tập, không nên tập ngắt quãng, nghĩa là tập vài phút, rồi nghỉ vài phút, sau đó tập tiếp, như vậy không hiệu quả.

• Nên tập nơi thoáng mát, yên tĩnh, không có gió luồng. Khi tập không được ở trần, nên mặc đồ mỏng, rộng, không bó sát người.

• Không nên nôn nóng mà phải từ từ tiếng lên, tuy chậm nhưng đem lại hiểu quả thật diệu kỳ. Nôn nóng tiến nhanh sẽ có hại " Dục tốc bất đạt ".

• Trong sinh hoạt hàng ngày, cố gắng đừng để thần kinh căng thẳng (nguyên nhân của rất nhiều bệnh) và hạn chế tối đa: Rượu, cà phê, bia, thuốc lá, bột ngọt, đường trắng tinh, mỡ động vật, nước đá, đồ lạnh, đồ ngọt, đồ chiên xào, đồ nướng, thực phẩm đóng hộp, đóng gói,... Nên ăn ít chất béo, ít thịt, ăn nhiều rau và trái cây tươi, mỗi ngày nên uống nước đun sôi để nguội từ 2 đến trên 2,5 lít (chia làm nhiều lần từ 8 đến 10 ly), thường xuyên tập luyện, nên gần với "Thiên Nhiên" càng nhiều càng tốt thì chắc chắn tinh thần sẽ an vui, thanh thản và sức khỏe sẽ tuyệt vời

- "Trường Sinh Bất Lão".

• Nếu tập trên nền đất hoặc trên cỏ thì nên đi chân không; nếu tập trên nền xi măng hoặc gạch bông thì phải mang dép hoặc đứng trên tấm chùi chân (thường để ở cửa nhà).

• Nếu ngưng tập một thời gian dài (vài tháng trở lên), khi tập lại phải tập từ đầu, nhưng có thể tăng số lần đánh tay nhanh hơn người mới tập.

NHỮNG PHẢN ỨNG .

Tập phương pháp này, có thể có những phản ứng, đều là hiện tượng thải chất độc và ổn định các rối loạn trong cơ thể. Đừng sợ mà ngưng tập, đó là dấu hiệu tốt. Xin liệt kê một số phản ứng thường gặp :

1. Cảm giác rần rần như kiến bò.

2. Đại tiện ra máu, mủ hoặc phân đen ( bệnh nặng như: ung thư ).

3. Ngứa (từng chỗ hoặc toàn thân).

4. Ra mồ hôi.

5. Tiểu nhiều.

6. Trung tiện (địt).

------------------------------ HẾT ------------------------------


NGŨ CẤM
Khi đau trong THỊT nên kiêng NGỌT
Lúc bệnh ngoài DA phải cữ CAY
Đau MÁU chớ ăn đồ MẶN mãi
Bệnh GÂN đừng uống chất CHUA hoài
Lại nên cấm ĐẮNG khi XƯƠNG nhức.

GIẬN quá hại CAN
NHÌN nhiều hại HUYẾT
VUI quá hại TÂM
NẰM nhiều hại KHÍ
LO NGHĨ quá hại TỲ
NGỒI nhiều hại CƠ NHỤC
BUỒN quá hại PHẾ
ĐỨNG nhiều hại XƯƠNG
SỢ quá hại THẬN
ĐI nhiều hại GÂN

* TỔN HẠI DO 5 VỊ .
- Quá MẶN làm thành mạch bị chai cứng, dễ bể và làm da mặt bị thay đổi.
- Quá ĐẮNG làm da khô và tóc rụng.
- Quá CAY làm bắp thịt nổi gân, móng tay / chân khô và bị hư.
- Quá CHUA làm thịt cứng và nhăn, môi trở nên nhợt nhạt.
- Quá NGỌT làm đau nhức cơ và rụng tóc.

Kính mong quý vị nào khi tập có hiệu quả tốt rồi, xin hãy chia sẻ phương pháp này cho những ông bà, anh chị em chưa được biết.

Rất mong lãnh hội những ý kiến hoặc những kinh nghiệm quý báu của tất cả quý vị và anh chị em xa gần. Kính xin liên lạc với chúng tôi :


MỘT NỤ CƯỜI BẰNG MƯỜI THANG THUỐC.
SỨC KHỎE QUÝ HƠN VÀNG.
KÍNH CHÚC QUÝ VỊ
MẠNH KHỎE, AN VUI, HẠNH PHÚC.

Lợi ích của xoa bóp bàn chân

 

Xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân là một trong nhiều phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc, là xu hướng được ưa chuông của thế giới hiện nay. Ta có thể tự chẩn đoán và chữa trị được một số bệnh thông thường. Có thể dễ dàng thực hiện bất kỳ chỗ nào, lúc nào: lúc nghỉ giải lao, lúc ngồi tàu xe, lúc xem ti vi... chỉ cần 5-10 phút ai cũng làm được.

Tại sao phải xoa bóp và bấm huyệt gan bàn chân?


Tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể con người đều có những vùng đại diện ở hai bàn chân. Bàn chân trái ứng với nửa người bên trái (như mắt trái, thận trái, tim, lách, hậu môn, trĩ...), bàn chân phải ứng với nửa người bên phải (như mắt phải, thận phải, gan, mật, ruột thừa...). Trong mỗi người có tới 35km các loại ống (mạch máu ruột, ống tuyến...) từ lớn nhỏ tới li ti, chạy ngang dọc khắp mọi nơi trong cơ thể. Phần lớn những ống đó là những dây thần kinh và các mạch máu lưu thông với mọi tế bào. Chỉ cần một ống dẫn nhỏ đâu đó bị tắc là ảnh hưởng tới cả một nhánh hay cả một hệ thống. Đôi bàn chân chúng ta là điểm tận cùng của hệ thống thần kinh và là điểm thấp nhất của các đường ống vì phần lớn thời gian con người hoạt động là đứng hay ngồi. Cho nên máu chúng ta có những “cặn bẩn” thường bị tồn đọng và dễ bị ứ tắc tại đây. Việc nắn bóp những điểm có ách tắc vì có những “cặn bẩn” của máu ở hai bàn chân sẽ làm các chất cặn bị tan hay phân tán nhỏ ra khiến máu dễ lưu thông và đào thải ra ngoài.

Sự lưu thông máu ở hai bàn chân không tốt còn do một nguyên nhân khác. Khi các cơ bắp của chúng ta hoạt động yếu toàn bộ khung xương bị chùng xuống. Cả hệ thống các đốt xương chân cũng vậy. Các khớp co hẹp lại có thể làm cho một số dây thần kinh và mạch máu bị kẹt gây ra sự ách tắc lưu thông của máu. Những “cặn bẩn” trong máu dễ bị ứ đọng ở những điểm này.

Nếu những điểm đó có các dây thần kinh và mạch máu có liên quan đến gan, gan hoạt động yếu đi, nếu liên quan đến thận, sẽ làm việc thải các chất acid uric qua đường nước tiểu kém hiệu quả. Chất “cặn bẩn” trong máu tụ lại lâu bị cô đặc thành những tinh thể. Nếu những tinh thể đó tụ tập ở đầu dây thần kinh, sẽ gây cảm giác nhức buốt và ảnh hưởng tới các cơ quan có liên quan. Do đó, trong quá trình xoa bóp, bấm huyệt bàn chân, nhìn nét mặt của bệnh nhân, ta có thể xác định được những điểm đau và suy ra cơ quan nội tạng nào đó trong cơ thể đang bị yếu hay hoạt động không bình thường.

Phương pháp xoa bóp

- Dùng lòng bàn tay xát mạnh và xoa tròn khắp bàn chân, chú ý tìm những vùng cảm ứng đau hoặc rất đau.

- Dùng đầu ngón tay cái ấn tìm chính xác những điểm đau nhưng không ấn quá mạnh và lâu vào một điểm.

- Bấm các huyệt đau này 15-30 giây, sau day tròn mỗi huyệt 10 vòng xuôi, 10 vòng ngược, mỗi ngày bấm 1-2 lần làm cho tới khi khỏi bệnh.

Có thể day bấm bằng đầu ngón tay cái (ngón tay thẳng đứng với điểm bấm) hoặc dùng đầu bút chì đầu có tẩy ấn cho êm. Riêng các huyệt ở ngón chân cần thêm động tác bóp các cạnh bên và vê tròn xoay quanh ngón chân.

Dù là bệnh gì cũng nên bấm day thêm 4 huyệt của các tuyến nội tiết là: tuyến yên, tuyến giáp, tuyến thượng thận và tuyến sinh dục để 4 tuyến này tiết ra đầy đủ các hormon rất quý, quyết định và duy trì bình ổn mọi hoạt động chức năng của cơ thể để nâng cao sức khỏe chống mệt mỏi, mất ngủ và tránh các rối loạn bất thường.

Ngoài ra không được quên kiểm tra huyệt tác động đến thận, gan, tim, lách... là những nội tạng quan trọng thường dễ bị đau yếu.

Đối chiếu các điểm đau này với hình vẽ các huyệt ở hai bàn chân có kết hợp với các triệu chứng đang xảy ra để suy đoán được cơ quan nội tạng nào có vấn đề. Nếu có bấm day nhầm huyệt cũng không sao. Xoa bóp bấm huyệt gan bàn chân thật đơn giản, an toàn, tiết kiệm mà rất hiệu nghiệm.Điều quang trọng khi ta hiểu về Diện Chẩn và quy luật ăn uống Âm Dương Tính :
Cơ thể chúng ta là một cổ máy rất hoàn hảo nếu ta biết cách ăn uống những món ăn âm hay dương tính sẽ mang lại kết quả rất nhanh .
Bên cạnh đó chúng ta nên kết hợp các huyệt đạo ở bàn chân và các tư thế làm việc, nghĩ ngơi một cách khoa học mang về hiệu quả rất cao . Lục Phủ Ngũ Tạng Ở Bàn Chân

Bấm huyệt lòng bàn chân.

"Sức khỏe là vốn quý"

Từ cổ chân trở xuống có 66 huyệt vị, người xưa đi chân trần, các rễ cây, sỏi, đá, luôn va chạm, chà xát, kích thích các huyệt này, nhờ đó mà nâng cao được sức khỏe, phòng và chống được bệnh tật. 

Bàn chân trái ứng với nửa thân bên trái (mắt trái, tai trái ...) và chỉ bên trái mới có tim, lách, hậu môn, trĩ ... 

Bàn chân phải ứng với nửa thân bên phải (mắt phải, tai phải ...) và chỉ bên phải mới có gan, mật, ruột thừa ... 

Vì tất cả các dây thần kinh đều tận cùng ở lòng bàn chân nên sẽ phản chiếu cảm ứng đau ở vùng đại diện chỗ cơ quan đang có bệnh. 

Trong những trường hợp có thương tổn lớn, dù đã được giải quyết tốt rồi (đã mổ ruột thừa, cắt dạ dày ...) nhưng các điểm tương ứng ở lòng bàn chân vẫn thấy đau lâu dài và đặc biệt có hai vùng ở gan bàn chân cần được lưu ý là gan (ở chân phải) và thận (cả hai chân) vì đó là hai nội tạng quan trọng và thường dễ bị đau yếu bằng cách: Rửa sạch hai vốc sỏi loại nhỏ bằng hạt lạc, để khô, chứa trong một bao tải dứa, hàng ngày dẫm chân trần lên sỏi chừng 10 phút để kích thích 66 huyệt ở chân và để tìm những vùng có cảm ứng đau. Ngoài ra có thể tự chuẩn đoán bệnh bằng cách: 

- Dùng lòng bàn tay xát mạnh và xoa tròn khắp lòng bàn chân, chú ý tìm những cảm giác đau và rất đau. 

- Dùng đầu ngón tay cái ấn dò tìm chính xác những điểm đau, nhưng không ấn mạnh quá lâu vào một điểm sẽ kém chính xác. 

- Đem đối chiếu vùng đau đó vào hình vẽ ta sẽ tự chuẩn đoán được bệnh ở cơ quan nào. 

Nếu khám phá thấy bệnh thì tự chữa bệnh như sau: Bấm vào các điểm đau này, day tròn 10 vòng xuôi, 10 vòng ngược. Các lần bấm sau tăng dần lên đến 5 hoặc 10 phút. 

Mỗi ngày day bấm 1 đến 2 lần đến khi hết đau là khỏi bệnh. 

Dù là bệnh gì vẫn nên day bấm thêm bốn vùng đường nội tiết: Yên, giáp trạng, thượng thận và sinh dục. 

Có thể day bấm bằng ngón tay cái (ngón tay thẳng đứng với điểm đau) hoặc ấn đầu có tẩy cao su ở bút chì, hoặc ấn bàn chân tỳ điểm đau lên đầu tròn của một mũ đinh sắt (đóng vào một mảnh gỗ nhỏ, dầy, đặt trên mặt đất). 

Riêng các ngón chân cần có thêm động tác bóp các cạnh ngón rồi vê tròn xoay quanh toàn ngón chân (chữa đau đầu, xoang). Tất nhiên vẫn có thể dùng thêm thuốc men phù hợp, bệnh sẽ càng mau khỏi hơn. 

Đây là một phương pháp chữa bệnh không dùng thuốc đơn giản, rất hiệu quả, rất an toàn, dễ thực hiện khi nghỉ giải lao, khi ngồi tàu xe, khi xem tivi ... vẫn làm được tốt.

Sưu tầm & chỉnh sửa.

 

 

Cần biết thêm chi tiết xin gọi: LUONGY LE VAN THAO ; 0912 464 339 - 097 333 9976

 


Sơ Đồ Huyệt Ở Bàn Chân

BẤM HUYỆT CHỮA BỆNH MẤT NGỦ THEO P.P. CỦA NHẬT BẢN



I. Nguyên nhân và triệu chứng :
Cảm thấy rất khó ngủ, không thể ngủ sâu, rất dễ tỉnh giấc.... đó là triệu chứng của bệnh mất ngủ.

Nguyên nhân : do tâm thần bất an, thần kinh quá căng thẳng, hay quá lo lắng làm tánh tình rất nóng nảy và rất bực  bội. Trong các trường hợp này, không những mất ngủ mà còn kèm theo các triệu chứng nhức lưng mỏi cổ.  

I. Cách điều trị :

Phải làm cho toàn cơ thể được thả lỏng, thư giản một cách tự nhiên.  Hãy massage tỉ mỉ vùng có các
Huyệt đạo:  ( Thiên Trụ ) nằm ở phía sau cổ, và ấn lên các  :
Huyệt đạo: ( Cách Du )
Huyệt đạo: ( Can Du) ,
Huyệt đạo: (Thận Du) nằm dọc hai bên xương sống ở sau lưng.

Ấn mạnh huyệt đạo: ( Bách Hội ) trên đỉnh đầu, còn giúp hết nhức đầu, chóng mặt, hoa mắt do bệnh mất ngủ gây nên.

Ấn huyệt đạo, và xoa bóp :

Huyệt đạo ( Cưu Vĩ ) ở ngực

Huyệt đạo ( Quan Nguyên)  ở bụng cũng có hiệu quả.

Xoa bóp nhiều lần  huyệt đạo: (Dũng Tuyền ) trong lòng bàn chân.

Hoặc dẫm lòng bàn chân lên cái vỏ một chai bia nhiều lần, cũng có cùng một hiệu quả.

Khi mất ngủ vì tay chân bị lạnh thì cần ấn bấm:
Huyệt đạo          : ( Dương Trì )  ở tay

Huyệt đạo: Tam Âm nằm song song nhau ở chân.

Nếu bệnh đã trở thành mãn tính thì cần phải châm cứu hoặc dùng ( cứu ) kích thích các huyệt đạo thì sẽ có được hiệu quả cao hơn.

Các bạn hãy nhìn theo hình bên trái hoặc hình bên trên có thể đọc dễ hơn, và những hình bên dưới để tìm các pressure point ( huyệt đạo), sau đó ấn bấm các huyệt đạo này và xoa bóp tỉ mỉ các huyệt đạo đã được tô đậm, nên dùng dầu gió hoặc dầu khuynh diệp (eucalyptus oil) bôi lên trước khi bấm huyệt đạo và xoa bóp mạnh ở những nơi như trên đỉnh đầu, ở sau cổ và ở dọc hai bên xương sống bắt đầu từ sau cổ với huyệt đạo Thiên Trụ dài xuồng đến thắt lưng thì hiệu quả càng cao, khi tìm huyệt đạo các bạn ấn vào chỗ có huyệt đạo, nếu thấy chạm vào bị đau thốn nhiều... thì chỗ đó chính là những huyệt đạo đang bị bế tắc.  Chúng tôi (PMANTH) đã thực hiện việc bấm huyệt đạo Thiên trụ và những huyệt đạo dài theo hai bên xương sống, kết quả là hết cảm lạnh và ngủ rất ngon.

THÔNG TIN TÀI KHOẢN

NGÂN HÀNG AGRIBANK

CTK : Lê Văn Thảo.
Số TK: 75082 0512 4170

TIN TỨC NỔI BẬT

thiet ke web thiet ke website web gia re lam web dep thiet ke web pro thiet ke web chuyen nghiep website gia re thiet ke website gia re thiet ke website chuyen nghiep thiet ke website pro thiet ke web gia re website chuyen nghiep web chuyen nghiep website web web site cong ty thiet ke web web 100$ website free web free website mien phi web mien phi cho thue xe thue xe can thue xe xe du lich thue xe du lich thue xe gia re thue xe hoi thue xe hoa thue xe cuoi thue xe du lich dich vu thue xe thue xe dich vu thue xe tu lai thue xe co tai thue xe thang hop dong thue xe cho thue xe gia re thue xe doi moi thue xe toyota thue xe ford thue xe camry thue xe honda sua may tinh sua laptop sua chua may tinh sua may tinh gia re bao tri may tinh bao tri mang bao tri he thong sua may tinh tai nha sua may tinh tan noi thiet ke mang thi cong mang mang wifi trien khai he thong mang may tinh may tinh IBM may tinh bo may tinh de ban nuskin my viet nuskin viet nam nuskin may rang ca phe ca phe sach ca phe nguyen chat