HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN

Hotline: 0973 339 976- -_-- Lê Văn Thảo
0973 339 976
Call
Lê Văn Thảo - Tư vấn
 
mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterToday153
mod_vvisit_counterYesterday169
mod_vvisit_counterThis week1248
mod_vvisit_counterThis month9508
mod_vvisit_counterAll955915

Phát hiện mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh Huntington

LỜI NÓI ĐẦU



 

Do Cụ Huỳnh Minh, một lương y biên khảo.

 

Trên 20 năm qua, chúng tôi đã từng đặt chân khắp vạn nẻo đường đất nước, sưu tầm khảo cứu lịch sử nước non nhà, tìm kiếm các loại cây cỏ từ Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long đến dãy Trường Sơn hùng vĩ của núi rừng, tận miền duyên hải xa xôi, sưu tập những cây thuốc quý để trị bệnh và các bài thuốc gia truyền của người xưa để lại trong dân gian, đem về thí nghiệm để chữa bệnh.

Vì lợi ích chung của nền Y Học Dân Tộc Cổ Truyền, chúng tôi không quản khó nhọc, âm thầm làm công việc này, đã tìm được trên 500 bài thuốc hay, trị nhiều chứng bệnh nan y mà chữa trị theo Đông Y và Tây Y chưa kết quả. Nếu bệnh nhân tin tưởng, trì chí, nhẫn nại áp dụng một trong những công thức mà chúng tôi đã trình bày trong đây, chắc chắn phục hồi sức khỏe rất hữu hiệu.

Đất nước ta có nhiều hoa thơm cỏ lạ, có những cây thuốc quý mà chúng ta không quan tâm để ý là một điều rất đáng tiếc. Nếu có dịp đi tham quan, chúng ta sẽ thấy hàng ngàn cây thuốc chữa bệnh trong dân gian có giá trị. Ngày nay khoa học đã tiến bộ, ngành Y Học Cổ Truyền đang vươn lên cả nước.

Sở Y Tế có phái nhiều chuyên gia đi khắp đó đây để tìm kiếm những loại cây thuốc đem về phân tích, thí nghiệm. Tỷ như cây rau dừa cạn, trị được huyết áp cao rất hay và còn trị được chứng ung thư máu. Rau giấp cá, rau dền tía, cây quao trị được xơ gan cổ trướng, nước da vàng, bụng lớn. Vỏ cây sứ cùi trị xổ phù thũng. Lá vông nem, nhãn lồng, lá mắc cở, cây móng tay, trị được mất ngủ, chứng đau tim . . . .

Nghiên cứu trong các loại cây thuốc, chúng ta phải giật mình, không ngờ những loại cây cỏ nước ta đã giúp cho một số bệnh nhân chóng khỏi một trong những chứng nan y.

Trên tinh thần phục vụ ngành Y Học Dân Tộc Cổ Truyền, chúng tôi nguyện thừa kế sự nghiệp của các Thánh  Y ngày xưa : Cụ Tuệ Tĩnh, Hải Thượng Lãn Ông, Hoa Đà . . . Lúc nào chúng tôi cũng tìm, cũng học, theo gương các vị tiền bối làm những việc hữu ích chung cho đại chúng, không chút mảy may vụ lợi.

“ Kiếp tằm đến thác cũng phải vương tơ”, hôm nay chúng tôi biên soạn quyển sách này, để cống hiến cho bạn đọc, cho những ai hay có óc sưu tầm khảo cứu. Cần thí nghiệm trước đi, rồi mới thấy việc làm của chúng tôi không đến nỗi là vô bổ, hầu lưu lại cho thế hệ ngày nay và mai sau. Quyển sách nhỏ này do chúng tôi sọan thảo mấy mươi năm qua với mục đích đóng góp cho bà con sử dụng, nhất là ở nơi thôn quê hẻo lánh, xa Thầy, xa chợ, coi theo đó để tự kiếm thuốc chữa trị trong gia đình mà không tốn kém gì cả. Chúng tôi rất mong bạn đọc đóng góp ý kiến cho quyển sách này và mong bạn đọc góp sức phổ biến nó sâu rộng trong dân gian.

HUỲNH MINH

Biên Khảo Y Học Dân Tộc Cổ Truyền

TP. Hồ Chí Minh, ngày 01.01.1988

LỜI GIỚI THIỆU

Chúng ta là những người đi sau thì phải cố gắng học hỏi, thừa kế và phát huy nền Y Học Cổ Truyền một cách hăng say đầy nhiệt quyết, để khỏi phải phụ lòng các bậc tiền nhân và tủi hổ cùng Y giới đương thời.

Trong vườn hoa y nghiệp mênh mong vô bờ bến, ta phải tự hào và cũng có cái đáng lo. Tự hào! Thừa hưởng di sản y học to lớn mà cổ nhân đã dày công biên soạn để lại cho đời, trong đó biết bao kinh nghiệm tích lũy lâu đời. Có lẽ cho đến hôm nay, chúng ta không thể nào bỏ qua những kinh nghiệm quý báu đó, mà phải tiếp tục nghiên  cứu cho sâu rộng, đồng thời phổ biến các nghiệm phương trong lâm sàn trị liệu đạt hiệu quả cao đến mọi tầng lớp quần chúng, rồi cùng chugn bảo vệ, đóng góp, xây dựng nền học thuật cao cả, đáng quý, trải qua mấy nghìn năm lịch sử, ngày càng tiến bộ tinh vi, gây lòng tin tưởng an toàn đối với bệnh nhân ở xã hội văn minh hiện đại này.

Khi gặp bệnh nhân, lẽ dĩ nhiên lương y phải chẩn mạch, kê đơn, bóc thuốc. Nhưng lở gặp kẽ khốn cùng, không tiền bạc, không nhà cửa, không có người thân, nhờ điều trị, thì cũng tận tình chữa cho, đó gọi là y đức của y gia.

Người cành nghèo càng dễ mắc bệnh. Hễ có bệnh thì phải tìm thầy. Đến Thầy hoài, Thầy cũng bấm bụng mà chịu, không thể nào đáp ứng được vẹn toàn. Rủi ro người nghèo mà mang bệnh ngặt nghèo, cơ khổ hơn nữa. Làm sao? Việc từ thiện biết bao nhiêu cho đủ. Đó là nỗi lo của lương tâm Thầy thuốc.

Nay Cụ Huỳnh Minh, một lương y biên khảo, đã nhiều năm lặn lội đi khắp mọi nơi, sưu tầm những cây thuốc quý, những bài thuốc dân gian hay, biên soạn thành quyển sách này, có hơn 500 bài thuốc giá trị, đủ đáp ứng mọi tần lớp cần sách thuốc để tự điều trị, rất hợp với túi tiền người nghèo, rất dễ sử dụng, không rườm rà, thuốc lại dễ tìm, ở đâu cũng sẳn có.

Như ở thôn quê hẻo lánh, không có Thầy thuốc, xa chợ, xa bệnh viện, thì phải có cuốn sách này ở trong nhà, phòng khi hữu sự đem dùng cũng như có Lương y bên cạnh và tự mình chữa trị cho mình, cho gia đình, cho bà con chung quanh, tiện lợi đủ điều.

Sách của Cụ biên soạn rất công phu, phải tốn công nhiều năm mới tổng kết các phương thuốc có hệ thống hoàn chỉnh.

Kính mong bạn đọc và quý y hữu nghiên cứu, áp dụng và phổ biến những bài thuốc trong quyển sách này, ngõ hầu giúp những bệnh nhân bớt đau khổ và nền Y Học Cổ Truyền Việt Nam ngày càng phát triển.

 

Mùa Xuân Nhâm Thân - 1992

Lương Y NGUYỄN HỮU TÂN

Trưởng Phòng Chẩn Trị Đông Y

Câu Lạc Bộ Phụ Lảo Q1-TP.HCM

CHƯƠNG I

TRỊ CHỨNG SẠN THẬN

 

Chứng sạn thận rất phổ biến, không những ở người lớn tuổi mà còn có cả ở tuổi thanh niên nữa.

Bệnh thường phát táo bạo, đau dữ dội từ sau lưng lan ra đến trước vùng bụng, rất nguy hiểm, phải đưa bệnh nhân đi bệnh viện cấp cứu.

Nếu sạn còn nhỏ thì uống thuốc lợi tiểu cho sạn thoát ra ngoài. Còn sạn tương đối lớn có thể làm tắt nghẽn niệu đạo, tiểu ra huyết, nếu quá lớn, phải giải phẫu lấy sạn ra mới được nhẹ nhàng.

Nay tùy theo thể trạng mà chọn dùng công thức thích hợp để điều trị, miễn là bệnh nhân tin tưởng và uống thuốc từ 10 ngày đến một tháng, sẽ có kết quả một cách không ngờ.

Vậy mời bạn hãy chọn dùng các công thức sau để bệnh tật được bình phục và nhớ thỉnh thoảng vài toa thuốc bổ thận và kiện tỳ để tránh tình trạng do đi tiểu nhiều mà dẫn đến thận suy không tốt

CÔNG THỨC 1 : TRỊ SẠN THẬN

Lá ngò gai, lấy chừng 01 nắm, đem hơ lửa cho héo, bỏ vô siêu, đổ 03 chén nước, sắc còn lại 8 phân, ngày uống 3 lần : sáng, tối và đi ngủ, trước bữa ăn.

Uống như vậy liên tục, nam uống 7 ngày, nữ uống 9 ngày, thì tiểu ra hết sạn trong bọng đái, nếu còn nhỏ thì sẽ tiêu mất.

( Bài này đã có áp dụng cho nhiều người dùng rồi, đều cho kết quả tốt

CÔNG THỨC 2 : TRỊ SẠN THẬN

Trái chuối hột giú chín, đãi ra lấy hột, chừng 1 chén, đem phơi khô, rang cho cháy, tán thành bột, đi đâu đem theo, uống mỗi ngày 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê, uống từ 10 ngày đến 20 ngày sẽ tiêu ra hết sạn.

CÔNG THỨC 3 : TRỊ SẠN THẬN

Lá thúi địt, loại lá xanh giống như lá sâm, hái 01 nắm lớn, rửa sạch, đâm vắt nước uống sống mỗi ngày 2 lần, liên tục 10 ngày đến 20 ngày trở đi sẽ hết.

CÔNG THỨC 4 : TRỊ SẠN THẬN

Lá bông bụp lồng đèn theo hàng rào, hái 01 nắm, đâm, để chút muối, chế thêm nước lạnh, vắt cho sệt sệt, ngày uống 2 lần, uống trong 15 ngày sẽ tiêu ra hết.

CÔNG THỨC 5 : TRỊ SẠN THẬN

Lá trầu bà loại lá lớn, hái chừng 5-10 lá, bỏ vô nồi sắc 3 chén còn 1 chén, uống chừng 10 ngày, sẽ tiêu ra hết. Còn xác thì nấu thế nước trà uống thường xuyên cho nó tiêu, không tái phát.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ SẠN THẬN

Trái khớm, khoét lỗ lấy cùi ra, nhét phèn chua vô ruột, nướng chín, vắt nước uống ngày vài lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ SẠN THẬN

Đọt tre mỡ, rễ tranh, râu bắp, lấy mỗi thứ 01 nắm, sao khử thổ, sắc 03 chén còn 01 chén, uống trong 3 tuần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 8 : ( ĐỘC VỊ ) TRỊ SẠN THẬN

Trái chuối hột non ( chuối chát ), đâm vắt lấy nước chừng 1 ly, để chút muối uống liên tục, sẽ đái ra hết hoặc sạn sẽ tiêu.

CÔNG THỨC 9 : TRỊ SẠN THẬN, ĐAU NHỨC, TIỂU KHÓ KHĂN

Rau om, độ một nắm, đâm nhuyễn, đỗ nước, vắt lấy nước cốt chừng hai phần chén. Chặt ngang rồi khoét lỗ cây chuối hột, đỗ nước cốt rau om vô lỗ cây chuối hột, lấy chén đậy lại 1 đêm. Sáng ra lấy nước để vô chai, ngày uống 03 lần. Nếu đau nặng, chặt uống chừng 5 cây, làm như vậy sẽ kết quả.

 

10. CÔNG THỨC 10 : TRỊ ĐAU NHỨC 2 BÊN TRÁI THẬN, ĐI ĐỨNG KHÓ

Đập 02 hột vịt, lấy lồng trắng hòa với chút rượu trắng, uống chừng vài ba lần sẽ hết, kết quả trăm phần trăm.

11. CÔNG THỨC 11 : TRỊ ĐAU THẬN LÀM NGẤT XỈU

( Chỉ uống một lần thôi )

Bột ngọt 01 muỗng cà phê, một chút muối, một chút đường, hòa với nước lạnh, cho uống sẽ hết liền.

12. CÔNG THỨC 12 : TRỊ ĐAU THẬN SƯNG CÙNG MÌNH

Nhét cục phèn chua vào ruột trái khơm, nướng chín, vắt nước, cho uống vài lần sẽ xẹp hết.

13. CÔNG THỨC 13 : TRỊ THẬN NHỨC, THẬN ĐAU

Một trái khớm, nướng cho chín, vắt nước vô 2 tròng đỏ hột gà, quậy cho đều, ăn vài lần sẽ hết. Bài này rất công hiệu.

 

14.CÔNG THỨC 14 : TRỊ THẬN, TIỂU ĐÊM ( ĐỘC VỊ )

Lá dâu tằm ăn, hái lá non, giã ra, vắt nước, còn lá già, sao khử thổ, sắc uống sẽ hết.

 

15.CÔNG THỨC 15 : TRỊ SẠN THẬN ( ĐỘC VỊ )

Hột chuối hột chín, đãi ra, đem rang cho vàng, lấy 01 nắm, sắc 03 chén còn 8 phân, uống sẽ hết.

 

16.CÔNG THỨC 16 : TRỊ SẠN THẬN

Vỏ sầu riêng, xắc mỏng, phơi khô, sao, cắt lá mã đề, nấu chung, sắc uống chừng 7 lần, tiểu ra hết.

 

17.CÔNG THỨC 17 : TRỊ SẠN THẬN

Dây hàn the, cắt đem phơi khô, sao khử thổ, mỗi ngày nấu 01 nồi, nấu cho kẹo lại, uống liên tiếp trong vòng một tháng sẽ tan sạn.

 

18.CÔNG THỨC 18 : TRỊ SẠN THẬN

Đọt gòn còn non, mỗi ngày đâm vắt nước, uống 1 tô, uống trong một tháng, tiểu ra sạn từ từ, và sau khi uống, chụp hình lại sẽ thấy kết quả không lường được. Hiệu nghiệm trăm phần trăm.

 

19.CÔNG THỨC 19 : TRỊ SẠN THẬN

Cây bông nở ngày ( bông tròn màu tím ), chặt phơi khô, để dành, mỗi ngày nấu 1 nồi, uống liên tiếp cho đến khi hết sạn, tiểu thông thì thôi.

 

20.CÔNG THỨC 20 : THUỐC BỔ THẬN

Hột mận phơi khô chừng 01 ký, bỏ vô ngâm với 1 lít rượu trắng độ 7 hôm, uống mỗi lần 1 ly nhỏ trước bữa cơm, uống chừng 10 ngày.

 

 

CHƯƠNG II

TRỊ CHỨNG THẤP KHỚP

 

Thấp khớp là một bệnh thông thường đối với những cụ già. Bệnh thường phát ở lứa tuổi 40 trở lên.

Bệnh nhân mang bệnh này thấy rất khó chịu, vì thấp khớp là một chứng bệnh hay kéo dài, trở thành mãn tính hoặc có khi phát cấp tính làm cho người hoảng hốt chạy đủ thứ Thầy, đủ thuốc mà đều vô hiệu hoặc chỉ giảm chút đỉnh rồi đâu cũng vào đấy, hoặc đôi khi tiền mất tật mang làm nan lòng không ít.

Nay xét thấy trong dân gian có nhiều phương kinh nghiệm, đã điều trị cho bà con nhiều năm qua với kết quả khả quan. Vì lương tâm Thầy thuốc không giữ làm của riêng, tôi xin chép lại những bài thuốc đơn giản hiệu nghiệm để truyền lại cho đời sau, mong giúp ích cho mọi người qua cơn bệnh ngặt, hoặc giữ đó gặp dịp đem dùng cứu người làm phúc.

Hãy chọn phương thức thích hợp rồi kiên trì uống liên tục sẽ thấy hiệu năng của thuốc dân gian hằng nghìn năm qua không phải là vô bổ.

 

CÔNG THỨC 1 : TRỊ THẤP KHỚP

Cây bùm sụm, chặt gốc rễ, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, mỗi lần hốt một nắm độ 200 gr, sắc 3 chén làm 8 phân, uống trong 1 tuần sẽ hết chứng đau lưng.

 

CÔNG THỨC 2 : TRỊ THẤP KHỚP

Rễ cây mai vàng, rễ cây nhãn ta, hai thứ bằng nhau, chặt phơi khô độ 500 gram, để vô keo, đổ 1.5 lít rượu, ngâm trong vòng 1 tuần lễ, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 2 ly uống rượu nhỏ sẽ trị được chứng nhức mỏi, đau lưng, khớp xương nay đau chỗ này mai đau chỗ khác. Trong nhà thường ngâm thường xuyên để dùng trong mỗi bữa ăn. ( Cần thêm chừng 100 gram đường phèn hay mật ong càng tốt )

 

CÔNG THỨC 3 : TRỊ BẠI XUỘI PHÙ THŨNG

Nấu cơm nếp cho chín, lấy 100 gram tỏi để vô cơm nếp, trộn cho đều, rồi ăn như cơm thường. Ăn liên tục trong nữa tháng sẽ hết bệnh.

 

CÔNG THỨC 4 : TRỊ CHỨNG ĐAU XƯƠNG SỐNG

Câu kỷ -1 chỉ; Đỗ trọng  - 1chỉ;  Ngưu tất  -1 chỉ;  Quế chi  -1 chỉ;

Bỏ chung vô, nấu cho chín, húp nước. Uống chừng 5-7 thang thì ngưng, bệnh sẽ hết.

CÔNG THỨC 5 : TRỊ ĐAU LƯNG NHỨC MỎI

Vỏ bưởi, thuốc cứu, hai thứ bằng nhau, phơi khô, sắc 3 chén còn 1 chén, uống vài thang sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ NHỨC ĐẦU KINH NIÊN, MẤT NGỦ VÌ NHỨC ĐẦU

Bạch chỉ, thương truật, trần bì, mỗi vị 3 chỉ. Tán

CÔNG THỨC 7 : TRỊ NHỨC ĐẦU ( SÁNG NHÚC, TRƯA NHỨC, CHIỀU NHỨC) THẦN KINH YẾU, HAY QUÊN

Áp dụng phương thuốc này từ 1 tuần đến 10 ngày liên tục sẽ hết.

Bí rợ- chừng 300 gram. Đậu xanh hột – 150 gram

Đem ngâm cho mềm, nấu chung cho thật chín, múc ra ăn, đừng nêm nếm gì cả. Ăn như thế sẽ tăng thêm trí nhớ và lành bệnh.Bài này đã trị cho nhiều người hết bệnh.

CÔNG THỨC 8 : TRỊ ĐAU LƯNG, NHỨC MỎI, THẤP KHỚP, SƯNG TRẶC, ĐI ĐỨNG KHÔNG ĐƯỢC

Dây chùm gọng mọc theo mé sông, lộn trong lá, chặt cho nhiều, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 7 phân, uống 3-5 thang trở lại. Bài này trị hết sưng nhức, giúp gân cốt cứng, đi đứng được như thường.

Bài này đã được một số nông dân lao động áp dụng, kết quả trăm phần trăm.

 

CÔNG THỨC 9 : ( ĐỘC VỊ ) TRỊ NHỨC LƯNG, NHỨC XƯƠNG SỐNG, KHUM XUỐNG KHÔNG ĐƯỢC

Rễ cây bàng, chặt ở phía dưới mặt trời mọc, xắt lát, phơi khô, sao tồn tính, ngâm rượu, uống thường xuyên.

 

CÔNG THỨC 10 : THUỐC TRỊ TÊ LIỆT NỬA NGƯỜI DO TÉ NGÃ HOẶC CẢM SỐT SINH RA

Cây ngà voi -250 gram, để tươi, dây cứt quạ - 100 gram, để tươi, ngải cứu -100gram, để tươi. Ba vị này sắc 4 chén còn 1 chén uống, sau đó nấu 3 chén còn 8 phân, uống lần 3, đổ 3 chén còn 6 phân, ngày uống 3 lần, uống độ 7 thang sẽ đi đứng được. Sau khi uống xong toa này rồi, ngâm các vị thuốc dưới đây với 2 lít rượu trắng.

Củ tỏi sống – 500 gram, đập nhỏ.

Da trâu -700 gram, nướng vàng, xắt nhỏ.

Ngâm rượu độ 1 tuần, mỗi khi ăn cơm, thường xuyên uống 1-2 ly nhỏ.

CÔNG THỨC 11 : TRỊ TÊ BẠI KINH NIÊN

Dây cốc kèn loại lá lớn lâu năm bò theo mé sông, chặt đem về thái nhỏ, phơi khô, sao khử thổ, ngâm rượu, uống ngày 2-3 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ.

 

CÔNG THỨC 12 : TRỊ THẤP KHỚP, SƯNG ĐẦU GỐI, NHỨC MỎI TAY CHÂN, ĐAU XƯƠNG SỐNG, NẰM NGỒI KHÔNG ĐƯỢC

Đậu đen ruột xanh, phơi khô, ủ chút giá chừng một tấc, đem phơi khô, sao tồn tính, tán thành bột, mỗi ngày uống chừng 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê, uống như vậy trong 1 tuần sẽ cho kết quả tốt, đã trị được nhiều người rất công hiệu.

 

CÔNG THỨC 13 : ( ĐỘC VỊ ) TRỊ PHONG THẤP, TAY CHÂN CO RÚT, ĐI ĐỨNG KHÔNG ĐƯỢC

Ké đầu ngựa, rang cho cháy lông, tán nhỏ. Mỗi lần dùng 8 đến 12 gram, sắc uống lúc đói, kiêng cử ăn thịt heo trong thời gian uống thuốc ( bài này của Ngài Tuệ Tĩnh ).

CÔNG THỨC 14 : THUỐC XOA TRỊ THẤP KHỚP

Đậu đen rang, trút vô khăn túm lại, đem xoa chỗ đau nhức nhiều lần. Nếu nguội rang nóng làm lại, ngày đêm làm liên tục đôi ba lần và uống thuốc bột đậu đen đã nói trong công thức ở trên.

 

CÔNG THỨC 15 : THUỐC NGÂM RƯỢU TRỊ NHỨC LƯNG, NHỨC XƯƠNG SỐNG

Rễ cây lựu mọi, nhỏ gừa lòng thòng xuống, rễ cây nhàu, ba thứ bằng nhau, chặt phơi khô, sao tồn tính, ngâm chừng 1 lít rượu trắng, đúng 1 tuần, lắc cho đều, uống 1-2 ly mỗi bữa ăn cơm hoặc trước khi ngủ đêm, uống trong 1 tuần.

Bài này đã trị được cho nhiều người bị đau xương sống, đau lưng, đi khòm. Nên áp dụng ngay sẽ thấy giá trị của nó.

CÔNG THỨC 16 : THUỐC NGÂM RƯỢU TRỊ BẠI XUỘI ĐI ĐỨNG KHÔNG ĐƯỢC

Cây xương rồng có gai, gọt bỏ 4 cạnh 4 phía cho hết gai, thái mỏng, phơi khô độ chừng 1 chén, sao khử thổ, ngâm 1 lít rượu, uống mỗi ngày 2-3 lần, trì chí uống từ 1 tháng đến 3 tháng, sẽ đi đứng được.

Bài này đã áp dụng cho nhiều người, kết quả tốt.

Chú ý: xương rồng có chất độc, do đó phải thật cẩn thận uống đúng liều lượng.

CÔNG THỨC 17 : BỊ CẢM RỒI NHỨC TAY BẠI NHỨC

Uống từ 2 đến 3 thang sẽ khỏi.

Độc hượt hay độc hoạt  : 5 chỉ

Khương hoạt                 : 5 chỉ

Tùng tiết                       :  5 chỉ

Xuyên sơn giáp (chế sẳn) : 1 lượng

Sắc 3 chén còn 1 chén, uống 2 lần.

 

CÔNG THỨC 18 : THUỐC TÁN TRỊ THẤP KHỚP

Dại hồi, thiên liên kiện, rễ cỏ xước, ngưu tất, rễ ô môi và rễ nhàu : lượng bằng nhau.

CÔNG THỨC 19 : THUỐC RƯỢU TRỊ NHỨC MỎI THẤP KHỚP

Ké đầu ngựa sao vàng

Quế chi

Hai loại này bằng nhau, ngâm trong 1 lít rượu, thoa bóp rất công hiệu.

 

CÔNG THỨC 20 : THUỐC TRỊ THẤP KHỚP SƯNG

Trứng gà so mới đẻ, nặng chanh ngập trứng, ngâm trong 1-2 ngày, rồi khuấy lên uống, uống liên tục 7 lần sẽ hết và trị được chứng bao tử.

( Bài này của Hòa thượng Giác Tuệ, Tân Thuận)

 

CÔNG THỨC 21 : THUỐC TRỊ THẤP KHỚP ( BÓ )

Cỏ hôi, rau muôi, cải trời, cây chó đẻ răng cưa, lá nhàu – đâm nhuyễn, để chút muối, bó vào khớp.

Các loại này rất công hiệu.

 

CÔNG THỨC 22 : THUỐC TRỊ BẠI XƯỘI ( THUỐC NGÂM RƯỢU )

* Nhũ hương                  : 2 chỉ

* Khổ sâm canh              : 3 chỉ

* Khổ qua                        : 2 chỉ

* Uất kim                         : 2 chỉ

* An tức hương              : 2 chỉ

* Khổ sâm tử                            : 5 phân

* Một dược                     : 2 chỉ

CÔNG THỨC 23 : THUỐC TRỊ SƯNG KHỚP, NHỨC BẢ VAI

Rễ cây điệp ta, có bông đỏ, còn gọi là cây phượng vỹ, đào rễ, chặt phơi khô, ngâm rượu uống thường xuyên sẽ hết, hoặc xắn ra, sao khử thổ, sắc uống nhiều lần cũng hiệu nghiệm.

 

CÔNG THỨC 24 : THUỐC TRỊ ĐAU KHỚP ĐẦU GỐI

Cỏ xước, lá lốt, cây vòi voi, lá bưởi, sao khử thổ, mỗi thứ bằng nhau, săc uống sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 23 : THUỐC TRỊ SƯNG NHỨC ĐẦU GỐI, TAY CHÂN

Sắc uống hoặc ngâm rượu, cỏ xước, câu tích, hai thứ bằng nhau. Bông ngà voi, liều lượng bằng phân nữa liều lượng cỏ xước. Để 3 vị vô siêu, sắc 3 chén còn 8 phân, uống nhiều lần sẽ hết.

CÔNG THỨC 26 : THUỐC BÓ TRỊ ĐAU ĐẦU GỐI, SƯNG GÂN, ĐI ĐỨNG ĐAU

Muối hột, rang cho nóng, túm vô vải, lót lá đu đủ trên đầu gối, rồi túm muối cho nóng, ấp trên chỗ đau, ngày làm vài lần sẽ hết.

Chú ý : đừng để muối quá nóng, sẽ bị phỏng.

CÔNG THỨC 27 : THUỐC THOA TRỊ ĐAU ĐẦU GỐI, SƯNG NHỨC

Hột cải bẹ trắng, đâm nhỏ hòa với giấm, đem bóp vào chỗ đau, ngày vài ba lần.

 

CÔNG THỨC 28 : THUỐC BÓ TRỊ ĐAU ĐẦU GỐI

Củ nghệ, đâm với phèn chua, đem bóp vô chỗ đau sưng, nó sẽ giúp hết sưng.

CÔNG THỨC 29 : THUỐC TRỊ PHÙ THŨNG, CHÂN VÀ ĐẦU GỐI SƯNG CÓ NƯỚC

* Địa cốt bì            : 2 chỉ                   * Trần bì               : 2 chỉ

* Đại phục bì         : 2 chỉ                   * Sinh cương bì    : 2 chỉ

* Bạch bì               : 2 chỉ                   * Phục linh bì        : 2 chỉ

Sắc uống. Nếu thận nóng, uống nước nhất, nước nhì, uống vài lần sẽ xẹp hết.

 

CÔNG THỨC 30 : THUỐC BÓ ĐAU ĐẦU GỐI ( ĐẦU VOI )

Lá cỏ hôi, cỏ lông bông trắng, đâm với muối, bó 3 đêm sẽ xẹp hết.

. CÔNG THỨC 31: TRỊ TÊ LIỆT, CỬ ĐỘNG KHOA KHĂN, LÀM GÂN CỐT CỨNG TRỞ LẠI

Chuối hột chín, xắt mỏng, phơi khô, sao cho vàng, ngâm rượu, uống thường xuyên. Nên áp dụng toa này, nó giúp đi đứng được.

CÔNG THỨC 32: THUỐC TRỊ THẤP KHỚP

* Sanh địa      : 3 chỉ                             Đỗ trọng               : 4 chỉ

* Hà thủ ô      : 4 chỉ                             Đầu củ qui            : 2 chỉ

* Cẩu tích      : 3 chỉ                             Xuyên khung         : 2 chỉ

* Cốt toái bổ  : 3 chỉ                             Ký sanh                : 4 chỉ

* Tục đoạn     : 3 chỉ                             Đảng sâm             : 3 chỉ

* Bạch chỉ      : 3 chỉ                             Huyết dằng           : 4 chỉ

* Độc hoạt     : 3 chỉ

* Hai hột mã tiền đốt thành thanh.

 

CÔNG THỨC 33 : THUỐC RƯỢU TRỊ BẠI XUỘI ĐI ĐỨNG KHÔNG ĐƯỢC

Cây lá ngũ trảo

Dây vòi voi

Củ xả lâu năm

Dây cứt quạ, lá nhỏ

Kinh giới

Các vị này bằng nhau, ngâm chừng 2 lít rượu, để 1 tuần, uống kết quả tốt.

 

CÔNG THỨC 34 : TRỊ NHỨC ĐẦU, ĐAU THẦN KINH, RÊN LA

Đau cả tháng, đi nhà thương nằm không hết. Về nhà gặp phương thuốc này, áp dụng được lành bệnh.

THUỐC XÔNG : Cây lá môn ngứa, muối hột – 1 nắm;  gạo lức – 1 nắm. Ba vị này để vô nồi nấu, bịt miệng lại, nhắc xuống, trùm mền, xông trong 1 tuần sẽ hết chứng này.

Xông rồi, chặt cây chuối tiêu, chẻ làm hai, để long não vô hai bên hông chuối, bắc lên bếp hơ cho nóng ấm ấm, rút hơi long não vô chuối, băng 2 bên đầu, chừng 5-7 lần sẽ hết luôn.

 

CÔNG THỨC 35 : TOA THUỐC NGÂM RƯỢU, XOA BÓP TRỊ CHỨNH NHỨC GÂN, NHỨC XƯƠNG, PHONG TÊ BẠI XƯỘI ( Rất công hiệu )

* Lưu hội              : 5 chỉ                             Băng phiến           : 3 chỉ

* Nhũ hương         : 5 chỉ                             Long não              : 3 chỉ

* Một dược            : 5 chỉ                             Xa-ly-Xi-lát            : 20gram

( loại nước pha vô sau )

Cách ngâm: 1 lít Alcool, ngâm chung 5 ngày, đổ ra, lấy thuốc này xoa bóp đêm ngày, thuốc rút công hiệu, kết quả tốt.

CÔNG THỨC 36 : TRỊ THẤP KHỚP, ĐI ĐỨNG KHÓ KHĂN

Gạo lức – 1 chén;  tỏi sống – 200 gram;  đậu xanh bỏ vỏ - 300 gram.

Ba thứ trộn chung, nấu chín cho thật mềm, người bệnh ăn mỗi ngày, gân cốt cứng, trừ được phù thũng, sẽ đi đứng được như thường, ăn như vậy trong thời gian 1 tháng sẽ thấy kết quả.

CÔNG THỨC 37 : TRỊ CHỨNG PHONG XÙ

Dùng cái nhau tốt, rửa rượu trắng, bỏ vô nồi đất đậy nắp lại, đun cho chín giòn, tán thành bột, hòa nữa muỗng ca phê Châu Thần, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng ca phê.Uống 2 cái như vậy sẽ hết.

CÔNG THỨC 38 : TRỊ NỔI PHONG ĐƠN CÙNG MÌNH

Vỏ cây vú sữa, lột ra cạo vỏ sần sùi, xắt mỏng, phơi khô, sao khử thổ, mỗi lần hốt một nhúm bỏ vô siêu, sắc 3 chén còn 1 chén, còn xác thì nấu như nước trà, uống thường xuyên sẽ hết.

CÔNG THỨC 39 : TRỊ PHONG THẤP MỒ HÔI TRỘM, TAY CHÂN ĐẦU MÌNH RA MỒ HÔI KHÓ CHỊU

Kiếm chỗ nào có nuôi trâu bò ( trâu màu trắng ), xin cứt mới ỉa, bôi vài ba lần sẽ hết tiệt.

CÔNG THỨC 40 : TRỊ THẤP KHỚP

Cây lá nhãn chài, mọc theo gò cao mé rừng ( Củ Chi, Tây Ninh có nhiều ), bứt cây lá bỏ vô nồi nấu uống hằng ngày, trị được chứng nhức tay chân. Uống thường xuyên thay trà sẽ hết bệnh thấp khớp.

Còn rễ của nó, đào đem về, sao vàng hay để sống, ngâm với rượu trắng độ một tuần lễ, uống mỗi lần 1 ly nhỏ.CÔNG THỨC 41 : MÁU BẦM BỊ Ứ TRONG CƠ THỂ

Mua 200 gram kim châm ở tiệm chạp phô, về ngâm 1 lít rượu trong khoảng 10 ngày. Mỗi lần uống 1 ly nhỏ, mỗi lần đi cầu, máu bầm theo phân ra. Uống 5-10 lần, máu bầm sẽ ra hết.

CÔNG THỨC 42 : TRỊ THẤP KHỚP, ĐẦU GỐI SƯNG

Lá mướp hương, quết nhuyễn, để vô chút muối, đem bó chỗ sưng, ngày 2 lần, sẽ rút độc xẹp hết. Kết quả hiệu nghiệm.

CÔNG THỨC 43 : THUỐC TRỊ PHONG TÊ THẤP, KHAI THÔNG 12 KINH LẠC

( Tán bột hay vò viên )

* Phòng phong        : 2 chỉ                             Đương qui            : 2 chỉ

* Kinh giới               : 3 chỉ                             Bắc cam thảo        : 1.5 chỉ

* Thiên ma               : 1 chỉ                             Xuyên ô                : 3 chỉ

* Bạch ma               : 2 chỉ                             Thảo ô                  : 3 chỉ

( Chế ngâm nước cơm 1 ngày đêm, lấy ra phơi khô, chế chút muối rang )

* Xuyên khung         : 1.5 chỉ                 Thương truật        : 2 chỉ

* Ma hoàng             : 2 chỉ                             Hà thủ ô đỏ           : 3 chỉ

* Thạch nộc            : 3 chỉ

* Hột sen rang muối

Có thể thêm :

Khương họat – 2 chỉ,  Độc hoạt – 2 chỉ, Đỗ trọng – 3 chỉ.

Tán bột, cho uống ngày 2 lần, nỗi lần 1 muỗng cà phê đầy. Nếu nhức nhiều, cho thêm 1 chút nhũ hương. Nếu lạnh cho thêm 3 lát gừng. Bài này công hiệu, uống qua đêm sẽ thấy kết quả.

 

 

CHƯƠNG III

TRỊ CHỨNG BỆNH TIM

CÔNG THỨC 1 : TRỊ TIM NGHẼN, KHÓ THỞ, MỆT

Tim nghẽn khó thở, mệt, ngủ không được, dùng các loại thuốc dưới đây:

Cây rễ lá chùm bao ( cây nhãn lồng ), chừng 200 gram, phơi khô, sao khử thổ.

Lá vông nem để sống.

Cây mắc cá chừng 200 gram.

Hột táo nhân, chừng 50 gram, sao hơi vàng.

Sắc 3 chén còn lại 1 chén, uống mỗi đêm sẽ ngủ được và trị được chứng mệt yếu tim, tim nghẽn.

CÔNG THỨC 2 : TRỊ ĐAU TIM

Cây lá móng tay, phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống thường xuyên.

( Trị mắc xương : ngậm lá )

 

CÔNG THỨC 2 : TRỊ ĐAU TIM

Cây lá bông mười giờ, phơi khô, sao khử thổ, nấu uống thường xuyên.

CÔNG THỨC 4 : TRỊ CHỨNG TIM LÀM MỆT, XÂY XÂM CHÓNG MẶT

Rễ cây đinh hương loại lá nhỏ, đào lên cho nhiều, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, săc uống mỗi ngày, trị được chứng mệt.

CÔNG THỨC 5 : TRỊ TIM LỚN

Cạo phấn tre – chừng một nhúm; chuối xiêm chín 1-3 trái. Để hai thứ vô chưng cách thủy, ăn 2-3 ngày 1 lần.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ ĐAU TIM

Trái đu đủ xanh trên cây, hái gọt vỏ xanh, xắt mỏng chừng nửa trái, bỏ vô cục đường phèn, chưng cách thủy. Ăn cho đúng như trên, rồi nghĩ qua lần sau, ăn như vậy thường trực 4-5 lần sẽ hết, kết quả tốt.

CÔNG THỨC 7 : THUỐC TỂ TRỊ BỆNH ĐAU TIM, HO RA MÁU, MÁU HUYẾT XẤU, BẠCH ĐỚI.

Cám nếp, đầu nành, hai thứ bằng nhau, đem rang cho đều đen, đừng khét, đem tán nhuyễn.

Ba củ sanh địa, nấu nước, đổ vô thuốc trộn cho đều, đâm nát xác sanh địa, bỏ vô trộn với hai thứ trên.

Đường thốt nốt.

Thắng tất cả cho tới chỉ, để vô cốt quết cho nhuyễn nhỏ, vò viên bằng ngón chân cái.

Cách dùng : Ngày uống 1-2 viên với muối hột rang cho nổ, tán nhuyễn, nhỏ, mỗi lần uống một chút cho đều thuốc.

 

CÔNG THỨC 8 : TRỊ CHỨNG NGHẸT TIM

Phèn chua phi – 1 phần, Tiêu sọ - 10 phần. Đâm nhuyễn 2 thứ hòa chung. Khi bị nghẹt tim, uống mỗi lần 1 muỗng cà phê, ngày vài lần.

CÔNG THỨC 9 : TRỊ TIM LỚN

Bông dừa lửa, chặt phân nửa quày, nấu uống thường xuyên tim sẽ tóp nhỏ lại.

CÔNG THỨC 10 : TRỊ NGHẼN TIM

Măng tre tàu, chặt, lột ra, đốt cháy, vắt lấy nước uống.

CÔNG THỨC 11 : TRỊ TIM MỆT, HỒI HỘP, CHÓNG MẶT

Bông mười giờ, loại bông đỏ lớn, hái một nắm, chế nước sôi cho nó ra màu đỏ, uống từ từ sẽ hết mệt. Nếu có dư nhiều, hái phơi khô, đem chế nước uống thay trà.

 

CÔNG THỨC 12 : TRỊ TIM LỚN, LÀM MỆT KHÓ THỞ

Mè đen, nếp lức. Hai thứ bằng nhau, đem rang vàng, xay thành bột, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê đầy.

 

CHƯƠNG IV

TRỊ CÁC CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Khi bị huyết áp cao nên áp dụng ngay phương thuốc chữa trị cấp bách sau đây:

Nấu siêu nước cho sôi, chế vô thao để hơi nguội, thọc 2 chân vô ngâm, ngâm độ 15-20 phút, rồi bảo người nhà vắt 4 trái chanh giấy đổ vô ly, chế chút nước và tý muối cho người bệnh uống, nó sẽ hạ ngay chứng cấp tính này.

CHÚ Ý : Theo kinh nghiệm chúng tôi, chứng huyết áp lên cao của mỗi người phát sinh ra do sự ăn uống không kiêng cử, nhất là ăn mặn uống rượu, hút thuốc hoặc làm việc quá độ, suy nghĩ nhiều, vui buồn cũng bị ảnh hưởng. Trong dân gian có nhiều phương thuốc hay nhưng phải sử dụng cho đúng và biết kiêng cử. Trong người nóng bức thường cũng sinh ra huyết áp cao. Ốm mập gì cũng bị huyết áp.

Trong thời gian nghiên cứu, trắc nghiệm, chúng tôi nhận thấy cây rau dừa cạn, loại bông trắng trị huyết áp rất tốt, không loại nào sánh kịp. Có thể quả quyết rằng cây rau dừa cạn là một loại dược thảo quý của nước ta. Ngoài  ra cây rau dừa cạn còn trị được các bệnh nan y khác nữa như : băng huyết, bệnh phụ nữ . . .

Hiện nay có một số cơ sở trồng rau dừa cạn trên mấy chục mẫu ở vùng Lâm Đồng, Phương Lâm để chế ra nhiều phương thuốc này.

CÔNG THỨC 1 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Chặt 1-2 cây rau dừa cạn bông trắng, bỏ vô siêu sắc 3 chén còn 1 chén, uống 1 lần cho hết. Đổ nước thêm vô, sắc lần thứ nhì, uống cho hết, rồi nhờ bác sỹ đo huyết áp lại. Khi huyết áp tối đa giảm còn 140 mmHg thì ngưng không uống nữa. Bài này đã trị cho nhiều người có kết quả tốt.

Lưu ý : Người bị huyết áp cao phải cử ăn mặt, ăn mỡ, cử đường, cử uống rượu, cà phê, thuốc lá, đừng suy nghĩ nhiều, nên nằm tịnh dưỡng cho tâm yên tịnh.

 

CÔNG THỨC 2 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Rau cần tàu, chừng một nắm, vắt lấy nước, pha với xá xị, uống ngày 2 lần cũng hạ được huyết áp.

 

CÔNG THỨC 3 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Lá ô rô tía, chặt nhỏ, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống ngày 2 lần. Và xác nấu nước uống thay trà thường xuyên, vài ngày đo lại, nếu huyết áp tối đa hạ xuống còn 130 mmHg thì ngưng uống.

 

CÔNG THỨC 4 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Lá cây gia tị, chừng 6-7 lá, xắt mỏng, phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống thay trà.

CÔNG THỨC 5 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Lá vú sữa, bẻ vài cành lá đem thiu cho héo, để vô siêu, sắc 3 chén còn 1 chén, uống mỗi ngày 2 lần, uống trong đôi ba ngày, đo máu trở lại.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Đậu Xanh Hột, đem sao hơi vàng, bỏ vô cối xay thành bột, mỗi ngày uống 4-5 muỗng cà phê cũng làm hạ huyết áp.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Lá kiến cò, đâm cho nhuyễn độ nữa ly cối nhỏ, bỏ chút muối, uống cũng hạ huyết áp.

2CÔNG THỨC 8 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Trái đu đủ chín, cỡ bằng cờm chân, vừa cho 1 người ăn, cắt mặt đổ vô chừng 2 chung mật ong ruồi, để vô chưng cách thủy, lấy ra ăn luôn cả hột và vỏ, ăn như thế chừng 2 lần, huyết áp sẽ hạ.

 

+CÔNG THỨC 9 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Bông khế chua, hái chừng một nắm độ 100 gram, đem sao tồn tính, khử thổ, để vô siêu, sắc 3 chén còn 8 phân, uống chừng 3 lần, huyết áp sẽ hạ.

 

CÔNG THỨC 10 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Dây cám bò theo lá ở mé sông rạch, bứt dây, chặt phơi khô, sao khử thổ, bỏ vô siêu chừng 1 nắm, sắc 3 chén còn 8 phân, uống chừng 5 lần trở lại, đo huyết áp lại, nếu bớt không lên nữa thì ngưng.

CÔNG THỨC 11 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Cây Paillote là loại cây du nhập hiện nay từ bên Mỹ, bên Pháp, lá giống như lá thuốc vòi Việt Nam, cây cứng, lá hơi nhám dài. Đâm lá, vắt lấy nước uống trong 3 ngày cũng hạ được huyết áp mau lẹ, nhưng sự công hiệu của nó không bằng cây rau dừa cạn mà chúng tôi trình bày ở trên.

Cây Paillote lại trị thêm chứng bệnh viêm phế quản rất tốt.

Nhiều người bị chứng này, ho khạc ra chút máu, sáng hái chừng 5-10 lá, nhai nuốt nước liên tục trong vài ba ngày sẽ cầm máu lại được và phổi hết bị viêm.Chúng tôi đã sử dụng và giúp cho nhiều người được bình phục.

CÔNG THỨC 12 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO KINH NIÊN

Chúng tôi đã được một bác sỹ danh tiếng trao tặng một bài thuốc về huyết áp cao giản dị và không tốn kém nhiều, chính Ông đã áp dụng có kết quả rồi trao tặng cho chúng tôi để giúp bà con đã mang chứng bệnh này ( đã chữa trị nhiều nơi không khỏi ). Uống thuốc này phải trì chí nhẫn nại, uống từ 1 tháng trở đi sẽ hết tuyệt.

Một trái dừa xiêm xanh, chặt ra, đổ vô ly cối lớn, cắt một trái chanh giấy làm hai, nặn hết trái chanh này vô ly, uống 1 lần, ngày uống 2 trái dừa xiêm như vậy, 1 tháng trở lên sẽ hết.

CHÚ Ý : Người bệnh trước khi uống, phải đo máu mình lên bao nhiêu, 1 tháng đo 4 lần, khi huyết áp tối đa còn 130 mmHg thì ngưng luôn, không uống nữa.

CÔNG THỨC 13 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Trái bưởi Hà Nàm, bằng cườm tay, gọt vỏ xanh, lấy cái ruột trắng xắn mỏng, phơi khô, sao khử thổ, mỗi lần uống hốt 1 nhúm để vô siêu, sắc 3 chén còn 8 phân, uống chừng 6-7 trái bưởi Hà Nàm, như vậy, chứng lên máu sẽ hạ, không còn tái phát.

CÔNG THỨC 14 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Cây cao non, độ chừng 4-5 tấc, kiếm chặt chừng 5-7 cây, chặt ngang chừng 1 lóng tay, phơi khô sao khử thổ, nấu nước uống thường xuyên, huyết áp sẽ hạ.

 

CÔNG THỨC 15 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Lá chuối hột, rọc lá, xắn nhỏ bằng ngón tay, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống 2 lần trong ngày, còn xác lá nấu ninh trong nầu, uống thế nước trà, chận được sự lên máu, huyết áp trở lại bình thường.

 

CÔNG THỨC 16 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Rau dừa cạn loại bông trắng, nếu đi xa không có cây sống để uống, nên kiếm cho nhiều, phơi khô, tán thành bột, để vô hộp đem theo. Mỗi lần bị áp huyết cao, múc ra uống chừng 2 muỗng cà phê sẽ hạ được ngay. Chẳng những vậy mà còn trị chứng ung thư máu nữa.

 

 

CÔNG THỨC 17 : TRỊ HUYẾT ÁP CAO , TIỂU ĐƯỜNG

Quày cao non, vừa trổ bông, chặt ra phơi khô, sao khử thổ tồn tính, sắc 3 chén còn 1 chén, uống 3-5 ngày và kiểm tra lại huyết áp.

CÔNG THỨC 18 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO ( ĐỘC VỊ )

Người bệnh phải kiên trì, cữ kiêng, đừng ăn nhiều thức ăn mặn nhất là muối, đồ ủ lâu ngày như đậu nhận, tương chao, ớt, gừng, tiêu, tỏi . . .

Lá mảng cầu gai ( mảng cầu xiêm ) hái một nắm, rửa sạch, đem vắt nước cốt, uống trong 3 lần sẽ hạ xuống ngay.

Trước khi uống phải đo huyết áp. Khi nào huyết áp lên thì uống chút đỉnh chứ không nên uống thường xuyên.

CÔNG THỨC 19 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO ĐẠI TÀI

6 quả cà chua

12 củ năn

1 lọn hành hương

1 củ tỏi lớn

6 lọt cần tàu

Đổ vô nồi 2 lít nước lạnh, nấu còn 1 tô lớn, uống nưpức bỏ xác, chia uống 3 lần, thì huyết áp sẽ xuống, không uống mãi. Bài này của Giáo Sư Lưu Hoàng ( Năm Bàn Cờ) trị huyết áp cao kinh niên, kết quả trăm phần trăm.

 

CÔNG THỨC 20 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO

Cây cau Hà Nàm, còn nhỏ, nhổ cả gốc rễ, phơi khô, chặt nhỏ, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 8 phân. Ngày uống 3 lần, huyết áp sẽ hạ.

 

CÔNG THỨC 21 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO CẤP TÍNH

Lá rau giấp cá, đâm nhuyễn, vắt nước, cho chút muối, uống vài ba lần sẽ hạ.

CÔNG THỨC 22 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO CẤP TÍNH VÀ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Vỏ sầu riêng, xắt mỏng phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống, trị huyết áp lên cao và xơ gan cổ trướng. Ở Nha Trang áp dụng cho kết quả tốt.

 

CÔNG THỨC 23 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO ( ĐỘC VỊ )

Thân cây dương, chặt bỏ vỏ lấy lõi ruột, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, hốt một nắm để vô siêu, sắc 3 chén còn 1 chén, uống 3 lần trong ngày.

 

CÔNG THỨC 24 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO ( ĐỘC VỊ )

Lá ngò gai ( ngò Tây ), hái 1 nắm, đâm nhuyễn, vắt lấy nước, hòa vô nước 1 trái dừa xiêm để uống 1 lần, rồi đo xem huyết áp hạ về mức bình thường chưa, đến 6 tháng sau mới được uống tiếp.

 

CÔNG THỨC 25 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO ( ĐỘC VỊ )

Vỏ cam sành, lột ra, chế nước sôi, để cho ra nước the, uống chừng 7 lần.

CÔNG THỨC 26 : TRỊ CHỨNG HUYẾT ÁP CAO CẤP TÍNH

Hái lá dâu tằm ăn, lá non, đâm nhuyễn, vắt lấy nước uống, lá già phơi khô, sao sắc uống.

CÔNG THỨC 27 : TRỊ HUYẾT ÁP CAO

Lá sống đời, đâm vắt nước uống.

CÔNG THỨC 28 : TRỊ HUYẾT ÁP CAO

Để 7-9 hột chanh lên miếng ngói, đốt thành than, tán nhuyễn, pha chút nước vào uống thì huyết áp sẽ hạ cấp kỳ.

 

CÔNG THỨC 29 : TRỊ HUYẾT ÁP CAO

Hột cây đủng đỉnh, sắc nước uống.

 

 

CHƯƠNG V

TRỊ CÁC CHỨNG PHÙ THŨNG DO GAN MẬT

( XƠ GAN CỔ TRƯỚNG )

 

Bệnh xơ gan cổ trương có các triệu chứng là bụng lớn, mặt mày tay chân sưng, đi đứng khó khăn. Nên áp dụng các phương thuốc chỉ dẫn dưới đây :

CÔNG THỨC 1: XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Cây và lá cây dứa gai hoặc trái, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, ngày sắc uống 2 lần, 3 chén còn 1 chén. Các nước sau uống thay trà, uồn liên tục sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 2: XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Gạo trắng, đậu xanh, 2 thứ bằng nhau, nấu ăn hằng ngày với tỏi sống, lượng tỏi phải ít hơn phân nữa lượng gạo.

CÔNG THỨC 3: TRỊ BỤNG LỚN DO GAN

Lức dây, mắc cở, lá muồng, dây cam thảo, bốn thứ bằng nhau, sắc 3 chén còn 1 chén, uống.

 

CÔNG THỨC 4: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG ( ĐỘC VỊ )

Chặt cây sung, thái mỏng, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 8 phân, uống từ 3 -5 thang,

CÔNG THỨC 5: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG LÂU NĂM, PHÙ THŨNG, ĐI ĐỨNG KHÔNG NỖI

Đào rễ cây sứ cùi, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống hằng ngày. Còn xác nấu ninh, uống thay trà, đừng uống gì khác. Uống như vậy sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 6: XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Rễ cau, rễ cây dứa gai, lá muồng trâu, cây chùm gởi, lá bưởi. Năm loại này bằng nhau, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống thường xuyên thì hết bệnh.

 

CÔNG THỨC 7: XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Thân cây dứa gai, măng cây sậy, bông ô rô tía, rễ cây nhàu, củ cát lồi, lá quao.

Các thứ bằng nhau, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn lại 1 chén, uống. Còn xác nấu nước uống thay trà. Bài này của Kỹ sư Nghiệp, đã trị nhiều người khỏi bệnh.

CÔNG THỨC 8: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG ( THUỐC THANG )

Cây lá cây dừa cạn, cây cỏ xước, trái dứa gai : xắt mỏng, phơi khô đem sao.

Dây nhãn lồng : xắn, phơi, sao.

Nhàu rễ, sâm nam.

Cây vông nem, cây kim vàng.

Tám vị này, mỗi vị một nhúm bằng nhau, sắc 3 chén còn 8 phân, ngày uống 2 thang, uống liên tiếp một tháng.

 

CÔNG THỨC 8: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG ( THUỐC BỘT )

Tỏi chừng 300 gram, lột vỏ sạch.

> Đậu xanh đãi vỏ, 300 gram.

Nấu chung cho chín, đem phơi khô, tán thành bột, uống sẽ khỏi.

CÔNG THỨC 10: TRỊ  SƯNG PHÙ MÌNH, TAY CHÂN NẶNG NỀ, ĐI ĐỨNG KHÓ KHĂN

Cơm nếp, nấu và cho vô 100 gram tỏi sống trộn cho đều, khi chín nhắc xuống, lấy ra ăn thường xuyên sẽ xẹp hết.

 

CÔNG THỨC 11: TRỊ  SƯNG PHÙ MÌNH, TAY CHÂN ( ĐỘC VỊ )

Cỏ xước, bứt cho nhiều, luôn gốc rễ, rửa sạch, phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống ngày 2 lần và xác nấu ninh uống thay trà, uống trong 15 ngày sẽ xẹp hết.

CÔNG THỨC 12: TRỊ CÁC CHỨNG ĐAU GAN

Rau đắng biển, nấu canh ăn hoặc ăn sống thường xuyên, sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 13: TRỊ GAN VÀ NHỨC MỎI

Cây lá lốt, phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống thường xuyên sẽ hết.

CÔNG THỨC 14: TRỊ DỊ ỨNG DO GAN, ĐI ĐỨNG KHÔNG ĐƯỢC

Lá đầu lân đã phơi sương, chừng 1 nắm, đâm cho nhuyễn, vắt chừng nữa ly nước, để chút muối, uống mỗi ngày 2 lần, uống trong 5-10 ngày.

 

CÔNG THỨC 15: TRỊ ĐAU GAN LÂU NĂM

Cây mai, chặt gốc rễ, rễ cây sứ cùi, hai thứ bắng nhau, phơi khô, sao khử thổ, lấy 1 nhúm, sắc 3 chén còn 1 chén.

 

CÔNG THỨC 16: TRỊ GAN SƯNG

Cây lá vạn thọ, chặt phơi khô, sao, nấu nước uống thường xuyên sẽ hết bệnh.

 

CÔNG THỨC 17: TRỊ NGỨA DO GAN

Ké đầu ngực, ô rô tía, dứa gai, dây khổ qua, bèo tai chuột vớt lên để héo, sao vàng. Sắc 3 chén còn 1 chén.

CÔNG THỨC 18: TRỊ  ĐAU GAN, MẶT NÁM NỔI MỤN

Mỗi ngày ăn 1 trái khớm hoặc xay lấy nước uống sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 19: TRỊ CÁC CHỨNG ĐAU GAN

Dây cườm thảo có hột đầu đen đầu đỏ, bứt luôn cả gốc rễ, chặt phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn 1 chén, uống mỗi ngày và uống luôn nước nhì.

 

CÔNG THỨC 20: TRỊ ĐAU GAN MỚI PHÁT, VÀNG DA, VÀNG MẮT, NƯỚC TIỂU VÀNG NHƯ NGHỆ

Một trái dứa gai trong mình mẹ đâm ra.

Cỏ mần chầu

Rễ tranh , mía lao

Bốn thứ này bằng nhau. Nướng mía lao cho cháy, bỏ vô chung, nấu với 6 lít nước, còn lại 3 lít, uống liên tục, tiêu sẽ hết.

Uống trong 3 ngày, nước tiểu trắng trở lại, da mặt bình thường. Nếu liên tục uống 10 ngày sẽ hết bệnh.

CÔNG THỨC 21: TRỊ UNG THƯ GAN, BỤNG LỚN

Dây hàn the, lưỡi đồng, cây rau dừa trắng, rau mơ, lá thúi địt, bốn thứ bằng nhau, sắc uống thường xuyên thay nước trà, bệnh sẽ hết.

CÔNG THỨC 22: TRỊ ĐAU GAN, NỔI U NẦN TRONG CƠ THỂ, NGỨA

Đọt lức, một nắm, để vô siêu, sắc uống chừng 5-7 lần sẽ hết.

 

23. CÔNG THỨC 23: TRỊ ĐAU BỤNG ( THUỐC ĐẮP )

Để muối hột trên rún, đốt thuốc cứu châm cho nóng, nhiều lần sẽ hết.

CÔNG THỨC 24: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG

Một chén đậu xanh đãi vỏ, 1 chén tỏi lột vỏ, nấu 2 thứ cho mềm, đánh cho nhừ, đem phơi khô, CÔNG THỨC 25: TRỊ XƠ GAN CỔ TRƯỚNG ( THUỐC THANG )

Cây rau dừa cạn, cây cỏ xước, trái dứa gai, dây lá cây nhãn lồng, nhàu, rễ sâm nam, cây vông nam, cây kim vàng, săc 3 chén còn 1 chén. Uống ngày 3 lần, liên tục 10-15 ngày sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 26: TRỊ ĐAU GAN, NƯỚC DA VÀNG, NGỨA

Cây mật nhân, tán cho nhuyễn, để bột uống hoặc làm hoàn, mỗi ngày uống 2 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê đầy. Trong chừng 1-2 tuần sẽ hết. Ngoài ra nó còn trị được bệnh suyễn, sợ nước ra gió.

CÔNG THỨC 8: TRỊ XƠ GAN, BỤNG LỚN, DA VÀNG

Vỏ rễ cây dứa gai, cây mướp mọc theo mé sông (có gai, làm dưa ăn); cây cỏ xước, ba thứ bằng nhau. Mỗi lần hốt 1 nắm, sắc 3 chén còn 1 chén. Xác nấu uống thay trà. Uống trong 1 tuần sẽ xổ độc ra hết, đã trị nhiều người khỏi bệnh.

 

 

CHƯƠNG VI

TRỊ CÁC CHỨNG ĐAU BAO TỬ

CÔNG THỨC 1: TRỊ LOÉT BAO TỬ, ÓI RA MÁU ( ĐỘC VỊ )

Hương nhu ( tức é tía ) chừng 1 kg, sao khử thổ, tán nhuyễn, hồ với mật ong thiệt, vò viên bằng nhón tay, dùng thường xuyên, ngày 2 viên sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 2: TRỊ ĐAU THƯỢNG VỊ ( TỨC LÀ CUỐNG BAO TỬ QUẶN ĐAU )

Củ nghệ, củ sả, trần bì, cám nếp, số lượng bằng nhau, tán thành bột, mỗi lần uống 1 muỗng cà phê đầy, ngày uống 3 lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 3: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Mật ong ruồi thiệt, chừng 1 ly nhỏ, 1 trái cam mật, vắt lấy nước. Uống chung 2 thứ thường xuyên, ngày 2 lần, uống trong 1 tháng.

CÔNG THỨC 4: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Khoai lang sùng, nếp lức rang, gừng khô, muối lâu năm, các thứ bằng nhau, tán nhuyễn, mỗi ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

 

CÔNG THỨC 5: TRỊ ĐAU BAO TỬ, NƯỚC DA VÀNG, XANH MÉT, ĂN UỐNG KHÔNG TIÊU

Rễ tranh, lá thương sơn, dây khổ qua, lá muồng, lấy mỗi thứ 1 nhúm, sắc chung 3 chén còn 1 chén, uống 5 lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 6: TRỊ ĐAU BAO TỬ

50 trái chuối xiêm già, lột vỏ, xắt mỏng, phơi khô; 2 lon nếp lức rang vàng; 200 hột tiêu sọ, đâm nhuyễn; 100 gr bột quế khâu ( trộn chung, tán cho đều). Nếu muốn làm nhiều thì tăng số lượng. Mỗi lần cho người bệnh uống 1 muỗng cà phê đầy, sau hoặc trước bữa ăn.

 

CÔNG THỨC 7: TRỊ ĐAU BAO TỬ KINH NIÊN

Nghệ xa cừ , phơi khô 100 gram.

< Quế khâu 20 gram.

Trần bì 25 gram.

Ba thứ tán nhuyễn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

CÔNG THỨC 8: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Nếp lức rang 200 gram, muối hột lâu năm 200 gram. Hai thứ tán nhuyễn, ngày uống 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

CÔNG THỨC 9: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Củ riềng, chừng 1-2 kg, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, tán thành bột, mỗi lần uống 1 muỗng cà phê, ngày uống 2-3 lần.

Bài này của Cụ Linh Hữu ở Tây Ninh.

CÔNG THỨC 10: TRỊ ĐAU BAO TỬ KINH NIÊN

Đậu xanh bột, rang vàng độ 500 gram; nếp trắng hoặc nếp lức – 500 gram; gừng -800 gram; phơi khô, rang vàng, tán nhuyễn trộn chung, hòa với chút đường cát, để dành trong thố, mỗi ngày uống từ 2 đến 3 lần, mỗi lần uống 1 muỗng cà phê vun, sẽ trị được chứng đau bao tử kinh niên.

CÔNG THỨC 11: TRỊ ĐAU BAO TỬ KINH NIÊN

Dây hàn the, bứt nấu uống thường xuyên, trị được chứng đau bao tử kinh niên.

CÔNG THỨC 12: TRỊ ĐAU THƯỢNG VỊ

Đậu xanh hột sao vàng, đem xay thành bột, muối hột rang. Mỗi lần uống 2 muỗng bột, và ngậm 1 chút bột ngọt vô cho thấm thuốc.

CÔNG THỨC 13: TRỊ ĐAU THƯỢNG VỊ

Gừng đâm nhuyễn, trộn với tròng đỏ trứng gà, đắp trên cuống rún bao tử, đắp trong 3 ngày, nếu rút khô thì trộn thêm tròng đỏ trứng gà. Cần uống thêm thuốc bao tử.

 

CÔNG THỨC 14: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Củ nghệ sống, đâm vắt nước hòa với mật ong, uống cũng hết.

 

CÔNG THỨC 15: TRỊ ĐAU BAO TỬ ( THẦN HIỆU )

Trái chuối hột sống, đốt thành than, một lon Nếp rang vàng, một lon vỏ óc gạo, hầm thành than, một lon Bột nghệ.

Bốn thứ trộn chung, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 1 muỗng cà phê.

CÔNG THỨC 16: TRỊ LÉO BAO TỬ LÂU NĂM

Cỏ mực ( loại thấp bông trắng ) hái độ 1 ký, rửa sạch, bỏ vô nồi sắc, độ chừng 10 tô nước, sắc còn 1 tô, uống 1 lần. Uống 3 nồi như vậy.

CÔNG THỨC 17: TRỊ SƯNG RUỘT

Rau má, đâm cho nhỏ, vắt lấy nước, uống thường xuyên, bệnh sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 18: TRỊ BỤNG SƯNG RUỘT

Ba muỗng canh hột đu đủ non ( trái còn non ), 1 cục phèn nhỏ bằng ngón tay, hai thứ đâm chung, chế nữa ly giấm thanh, chắt cho uống vài lần, sẽ êm trở lại.

 

CÔNG THỨC 19 TRỊ ĐAU BỤNG GIÓ, NHÀO LĂN, ỐI, ỈA

Móc củ thiềng liềng rửa sạch, bỏ vô nhai từ từ nuốt nước, sẽ êm.

Củ thiềng liềng chẳng những trị được chứng đau bụng gió nói trên mà còn trị được chứng say rượu.

 

CÔNG THỨC 20: TRỊ ĐAU BỤNG CẤP TÍNH, NHÀO LĂN KHÓ CHỊU

Đọt chuối xiêm non, còn quấn chưa nở ra, cắt một khúc, đâm vắt nước cốt, cho chút muối, uống vài lần sẽ hết.

CÔNG THỨC 21: TRỊ ĐAU BỤNG NÔN MỬA, ỐI ỈA

Trà tàu, gừng sống, vỏ lựu, quế khâu, phân cho đều, để vô siêu, sắc 3 chén còn 1 chén, uống sẽ cầm ngay.

 

CÔNG THỨC 22: TRỊ CHỨNG RUỘT SƯNG

Trần bì, sao cho vàng; gừng lùi; để 2 thứ vô siêu, sắc cho kẹo, uống vài lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 23: TRỊ BỆNH DỊCH TẢ

Cần nên làm trước, để dành khi hữu sự.

Gừng rang, tiêu sọ rang, trần bì rang, ba thứ này ngâm chung, lượng bằng nhau với 1 lít rượu, đem phơi nắng 1 tuần. Mỗi lần bị ói ỉa, đau bụng, uống vô 1 ly nhỏ sẽ cầm lại, cơ thể ấm trở lại.

 

CÔNG THỨC 24: TRỊ BỆNH KIẾT

Đọt lựu bạch, đâm vắt lấy nước cốt, 1 ly nhơ, cho chút muối bọt, uống  thì cầm ngay.

 

CÔNG THỨC 25: TRỊ ĐAU BAO TỬ KINH NIÊN

Vỏ mù phơi khô – 1 phần; cam thảo bắc – 1 phần. Xay chung, mỗi lần uống 1 muỗng rưỡi cà phê, ngày uống 2 - 3 lần.

 

 

CÔNG THỨC 26: TRỊ ĐAU BAO TỬ

Trái bưởi Hà Nàm, gọt lấy vỏ xanh, bên ngoài phơi khô, sao khử thổ, để vô siêu, đổ chừng 1 chén nước, nấu cho sôi, rót ra chén, uống nhiều lần, sẽ hạ cơn đau và dần khỏi bệnh.

 

CÔNG THỨC 27: TRỊ BỆNH TIÊU CHẢY

Hột so đũa, đâm nát thành bột, uống vài lần sẽ cầm lại.

 

CHƯƠNG VII

TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

CÔNG THỨC 1 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Cây lá râu mèo, sao khử thổ, sắc nước uống thường xuyên, thay nước trà.

 

CÔNG THỨC 2 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Trái nhàu còn già, hái chừng 1 kg, xắt mỏng; 1 kg đường cát trắng, lấy ve keo, sắp 1 lớp nhàu đã xắt, rãi 1 lớp đường lên trên. Lớp đường xen kẽ với lớp nhàu cho đều, đậy nắm kín để trong nhà chừng 10 ngày, cho nước nhàu ra giống nước cơm rượu. Mỗi ngày chắt ra uống 2-3 lần, mỗi lần chừng 2 ly nhỏ uống rượu. Uống liên tục như vậy chừng một tháng trở lại. Ngâm như thế chừng 2 keo theo công thức trên, uống sẽ khỏi bệnh.

 

CÔNG THỨC 3 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Hột me, đem rang, đập bỏ vỏ, lấy ruột cho nhiều, độ chừng 500 gram, hầm cho cháy thành than, bỏ vô cối xay tiêu, xay cho nhuyễn như cà phê. Mỗi ngày uống chừng 2-3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê đầy.

 

CÔNG THỨC 4 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Nước dưa cải lâu năm, uống mỗi ngày 2 lần, mỗi lần 1 ly nhỏ, uống thường xuyên.

 

CÔNG THỨC 5 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Trái bí rợ nấu với đậu xanh hay đậu đen.

 

CÔNG THỨC 6 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Rễ cây bông bụt phướng, phơi khô, sao vàng khử thổ, sắc nước uống thường xuyên.

 

CÔNG THỨC 7 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Bông huỳnh hoa, phơi khô, nấu nước uống thường xuyên.

CÔNG THỨC 8 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Rau nhúc phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống thường xuyên. Phần đọt non ăn sống hằng ngày.

CÔNG THỨC 9 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Củ trái khớm, xắt mỏng, phơi khô, sao khử thổ, mỗi lần lấy 1 nhúm, sắc 3 chén còn 8 phân, uống thường xuyên.

CÔNG THỨC 10 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Củ thơm tây, rễ cỏ ống, 2 vị bằng nhau, thái mỏng, phơi khô, sao khử thổ, hốt 1 nắm để vô siêu, sắc 3 chén còn 8 phân, uống trước khi ngủ đêm, uống chừng 15 ngày.

 

CÔNG THỨC 11 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Dùng ống trúc, cắt bỏ 2 đầu mắt, thụt thông lòng, ghim lóng trúc vô gốc chuối tiêu, phía mặt trời mọc, cách mặt đất 6 phân, đào đất âm chai xuống, để đầu lóng trúc vào miệng chai, khoảng 6 giờ chiều hứng cho đến sáng, lấy nước chuối uống lúc bụng đói.

Tiếp theo đó, vào buổi chiều, dùng 500 gram trái khế ngọt, gọt bỏ khía, dạt mỏng, đem sắc 3 chén còn lại 7 phân, uống vào buổi tối trước khi đi ngủ.

Cứ thế uống trong 7 ngày. Cữ ăn các thức ăn ngọt, có chất đường.

Bài này của Sư Thích Bửu Sơn, Linh Tôn Tự, xã Vĩnh Công- Sông Bé.

 

CÔNG THỨC 12 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Cây chuối hột sắp trổ quày, chặt cách gốc 3 tấc, khoét lỗ vô ruột, đâm cục phèn phi nhỏ, rắc vô ruột, đậy nắp lại, sáng ra múc nước uống, làm 5-7 lần.

CÔNG THỨC 13 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Rau trai xanh : mọc hoang ngoài đồng ruộng.

Một trái dừa xiêm tươi lớn, chặt lấy nước để vô siêu.

Nấu sôi 2 thứ độ 20 phút, chắt ra uống, bỏ xác, uống mỗi ngày, uống liên tiếp từ 7 ngày đến 10 ngày.

CÔNG THỨC 14 :  TRỊ CHỨNG TIỂU ĐÊM

Trái thơm còn sống, vắt lấy nước, đâm cục phèn nhỏ, hòa lại cho uống 5 ngày, mỗi ngày 1 trái.

CÔNG THỨC 15 :  TRỊ BÍ ĐƯỜNG TIỂU

Cây đinh lăng, loại lá có khía, hái 1 nắm lá tươi, sao cho vàng, để vô siêu sắc 3 chén còn lại 1 chén. Uống 1 lần, trong 10 phút sẽ tiểu ra nhẹ nhàng.

CÔNG THỨC 16 :  TRỊ BÍ TIỂU

Nấu 1 nồi nước nóng, để cho hơi nguội, người bệnh lấy từng gáo dội lên đầu, dội từ từ xuống, người bệnh sẽ tiểu ra ngay. Cách này nhanh hơn bài ở Công Thức 15 .

 

CÔNG THỨC 17 :  TRỊ BÍ TIỂU, BỊ THỐN KHÓ CHỊU

Đậu xanh cà còn sống, đem ngâm với nước độ 15 phút, lấy nước uống. Ngâm uống tiếp 3 lần nữa, xác đậu nấu ăn.

 

CÔNG THỨC 18 :  TRỊ BỆNH ĐI TIỂU ĐÊM

Gừng sồn, đâm hòa với chút nước lạnh, uống liên tục vài đêm, sẽ có kết quả.

CÔNG THỨC 19 :  TRỊ BỆNH NƯỚC TIỂU ĐỤC NHƯ NƯỚC CƠM VO

Rạ nếp, rửa sạch, sắc 3 chén còn 1 chén, đem phơi sương, uống trước khi đi ngủ trong 1 tuần lễ sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 20 :  TRỊ THẬN SUY, MẮT MỜ

* Thục địa                : 8 chỉ                             Hoài sơn               : 4 chỉ

* Táo nhục               : 4 chỉ                             Phục linh              : 3 chỉ

*Trạch tả                 : 3 chỉ                   Đơn bì                  : 3 chỉ
* Ngũ vị                   : 3 chỉ                             Cúc hoa                : 2 chỉ

* Tang phù tiêu        : 2 chỉ                             Long cốt               : 2 chỉ

* Mẫu lệ                  : 2 chỉ                             Ích trí nhân           : 2 chỉ

Làm thuốc tễ, uống ngày 3 lần, mỗi lần 1 chỉ rưỡi.

 

<CÔNG THỨC 21 :  TRỊ BỆNH TIỂU ĐƯỜNG

Lá đinh lăng, có khía nhọn, hái 1 nắm độ 100 gram, sắc cho nó ra hết nhựa độ chừng 1 giờ. Uống mỗi ngày 2 lần, còn nước dảo thì uống thay trà thường xuyên. Cứ uống liên tục khoảng 15 ngày, thử nước tiểu lại, thấy giảm, uống tíếp.

Vị thuốc này đã trị được nhiều người kết quả tốt.

CHƯƠNG VIII

TRỊ CÁC CHỨNG BỆNH HO

KHÒ KHÈ, SUYỄN, HO RA MÁU

 

CÔNG THỨC 1 : TRỊ BỆNH SUYỄN KINH NIÊN

Phương thuốc này đã trị nhiều người bệnh suyễn kinh niên, đã trị nhiều nơi không hết.

Cứt mèo phơi khô, rang cho cháy đen. Lúa cũng rang cho cháy đen. Hai thứ bằng nhau, đâm nhuyễn, đổ vô ly, chế nước sôi, quậy cho đều, lóng cặn, lấy nước trong. Uồng lúc lên cơn suyễn, ngày 2-3 lần sẽ khỏi.

CÔNG THỨC 2 : TRỊ BỆNH SUYỄN KINH NIÊN

Chặt cây chanh giấy cả gốc rễ, phơi khô, sao khử thổ. Sắc 3 chén còn 1 chén, uống trong vòng 10 ngày.

 

CÔNG THỨC 3 : TRỊ BỆNH SUYỄN ĐẠI TÀI

Đào rễ cây cỏ ống, chặt phơi khô, sao vàng, để vô siêu nấu nước hơi ấm, chắt đổ bỏ nước này. Đổ nước thứ hai vô nấu uống.

 

CÔNG THỨC 4 : TRỊ BỆNH SUYỄN

Cứt dê ngâm với nước tiểu trẻ em, vài tiếng đồng hồ. Chắt ra đem phơi khô, rang rồi tán nhuyễn. Mỗi lần lên cơn suyễn, uống mỗi lần 1 muỗng cà phê.

CÔNG THỨC 5 : TRỊ HO SUYỄN

Lá nguyệt bạch, bứt chừng vài chục lá, chưng với đường, cho người bệnh uống vài ngày sẽ dứt ho.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ HO SUYỄN

Lá đinh lăng ( lỗ tai heo tròn ), đâm vắt nước, bỏ chút muối, uống vài ngày.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ HO SUYỄN

Bông bạch mai kim, hái 1 nắm, chưng với chút đường, cho uống cũng trị được ho.

CÔNG THỨC 8 : TRỊ SUYỄN

Trái dứa gai, vạt phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống thường xuyên.

CÔNG THỨC 9 : TRỊ LÊN CƠN SUYỄN KHI TỚI CON NƯỚC

Nên làm sẵn để dành khi nào bệnh thì lấy ra dùng.

Cà dược – 10 bông, phơi khô;  Cam thảo bắc – 2 lượng. Tán nhuyễn, hồ mật ong hoặc nước cơm chín, vò thành viên, phơi khô.

Mỗi lần lên cơn suyễn, lấy vài viên ra ngâm sẽ hạ ngay. Ngày ngậm 2-3 lần, mỗi lần 3 viên.

CÔNG THỨC 10 : TRỊ HO KHÒ KHÈ CÚA TRẺ EM

Bông nở ngày – 1 nắm, để sống, sắc 3 chén còn 8 phân. Uống trị viêm phổi và ho.

CÔNG THỨC 11 : TRỊ ĐAU PHỔI

Lá vông nem, đâm vắt nước, độ 1 ly, bỏ vô cục đường phèn tán nhỏ. Uống chừng 1 tháng trở đi sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 12 : TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Lá sống đời, loại lá lớn, đâm vắt lấy nước. Uống mỗi ngày 2 lần, sáng tối, mỗi lần 1 ly trong 1 tháng.

 

CÔNG THỨC 13 : TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Lá thuốc vòi núi, loại lá dài mình cứng, đâm vắt lấy nước, để chút muối, uống.

CÔNG THỨC 14 : TRỊ NÁM PHỔI

Phổi nám nếu chịu khó uống bài này cũng hết bệnh.

Vạt vỏ cây mù u phía mặt trời mọc, xắt mỏng, phơi khô, để vô nồi nấu ninh, uống thay nước trà, trong đôi ba tháng sẽ khỏi.

( Bài này của Lương Y Nguyễn Văn Ẩn- Bến Cát- Bình Dương ).

 

CÔNG THỨC 15 : TRỊ HO

Hột điều, chừng 20 hột, nướng cháy thành than, tán nhuyễn, hòa với nước sôi. Lấy phần nước trong uống, sẽ hết. Cần uống khoảng 1 tháng.

 

<CÔNG THỨC 16 : TRỊ HO RA MÁU

Cỏ cứt heo, cỏ mực, 2 thứ bằng nhau, đâm chung, vắt lấy nước cho uống liên tục trong 1 tuần sẽ hết bệnh.

CÔNG THỨC 17 : TRỊ CẢM, HO KHÈ KHO, ĐAU CỔ, SUYỄN

Mỗi buổi sáng, xắt mỏng trái chanh giấy, chế nước sôi vô, để chút muối, chút đường. Uống thường xuyên sẽ trị cảm và các chứng kể trên.

CÔNG THỨC 18 : TRỊ HO

Cây lá cà chua, chặt phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn lại 8 phân. Ngày uống 2 lần, uống trong 1 tuần.

 

CÔNG THỨC 19 : TRỊ VIÊM PHẾ QUẢN

Cỏ mực, cỏ xước, 2 thứ bằng nhau, đâm vắt nước chừng 1 chén, để vô chút mật ong ruồi. Mỗi ngày uống 2 lần, uống 2 ngày rồi nghỉ, qua hết ngày thứ 3 thì uống tiếp.

CÔNG THỨC 20 : TRỊ CHỨNG ĐAU THỔ HUYẾT

Củ sen tàu, thái mỏng, phơi khô, sao cho cháy thành than, tán nhuyễn, mài với mực tàu thứ thiệt, hòa trộn với nước ấm. Mỗi lần uống 1 muỗng canh, cách 1 giờ uống 1 lần, uống liên tiếp cho đến khi nào dứt hẳn.

Bài thuốc này đã có thực nghiệm kiểm chứng rồi.

 

CÔNG THỨC 21 : TRỊ ĐAU HUYẾT VẬN

Người lớn hay trẻ em bị chứng huyết vận, môi đỏ bầm tím, lưng bụng có đốm đỏ, nên áp dụng phương thuốc này :

Tìm kiếm Rong nền nhà hay rong mọc dưới sàn nước, đít lu đắp ngay chỗ huyết vận, nó sẽ tan hết.

 

CÔNG THỨC 22 : TRỊ CHẢY MÁU CAM

Lấy 2 củ tỏi, đâm giập, cột dưới 2 bàn chân, nó sẽ rút lên đầu làm ngưng chảy máu.

 

CÔNG THỨC 23 : TRỊ ĐAU HUYẾT VẬN

Lá tram ổn đâm xào với giấm cho ấm ấm, phết vài lần lên chỗ huyết vận.

CÔNG THỨC 24 : TRỊ CHẢY MÁU CAM

Đào củ cỏ cú, luôn cả gốc rễ, rửa sạch, đâm giập, cho chút muối vào, uống thì cầm máu lại.

 

CÔNG THỨC 25:

Củ đậu rồng, đào lên phơi khô, sao khử thổ, sắc 3 chén còn lại 1 chén. Uống ngày 2 lần, còn xác nấu nước uống thường xuyên sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 26 : TRỊ ĐAU HUYẾT VẬN

Rau dấp cá, đâm để chút muối, đắp lên chỗ huyết vận, nó sẽ tan hết.

CÔNG THỨC 27 : TRỊ SỐT XUẤT HUYẾT

Cho uống cỏ mực và nước chanh liên tiếp. Nếu không đở, phải chuyển đến bệnh viện ngay vì bệnh này rất dễ tử vong.

 

CÔNG THỨC 28 : TRỊ BỆNH SUYỄN KINH NIÊN

Trái quả đào tiên, xắt phơi khô cả vỏ ruột, ngâm với nước cơm rượu, uống sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 29 : TRỊ BỆNH SUYỄN ĐẠI TÀI

Cây chổi đực, chặt phơi khô, sao khử thổ, nấu nước uống vài siêu, kết quả rất tốt.

 

CÔNG THỨC 30 : TRỊ NÁM PHỔI

Muốn cho hết nám phổi, cần ở chổ thoáng khí, khí hậu trong lành như miền quê, miền biển, uống theo thuốc Tây Y.

Đồng thời mỗi ngày ăn thường xuyên cải xà lách xoong.

 

< CÔNG THỨC 31: TRỊ BỆNH SUYỄN KINH NIÊN ( ĐỘC VỊ )

Lấy quả đào tiên già, cắt lấy ruột, phơi khô, nấu thành cao. Mỗi ngày để vô ly, chế nước sôi, uống thường xuyên, bệnh sẽ hết và người bệnh lên cân.

 

 

 

CHƯƠNG IX

TRỊ CÁC CHỨNG BỆNH TRĨ

 

CÔNG THỨC 1 : TRỊ BỆNH TRĨ NỘI, SA TỬ CUNG ( THUỐC BỘT )

* Ngũ bội               : 2 chỉ                             Đại hoàng             : 1 chỉ

* Phèn chua phi    : 1 chỉ

Ba thứ tán chung, lấy bông gòn nhét vô vài lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 2 : TRỊ BỆNH TRĨ NGOẠI, ĐI TIÊU RA MÁU

Một chén muối hột, đem rang cho nổ, túm vô vải, đặt vào hậu môn. Nếu còn nóng thì đặt cách 1 phân, bớt nóng đặt sát vào. Cứ như vậy làm khoảng 8 lần sẽ hết.

Chú ý : Coi chừng bị phỏng nếu muối quá nóng.

 

CÔNG THỨC 3 : TRỊ BỆNH TRĨ

20 hột mã tiền, đốt thành than, tán nhuyễn; phèn phi, một cục bằng ngón tay út. Hai thứ tán chung, hòa sệt với dầu dừa, mật ong ruồi. Xức chổ mụt trĩ và dùng băng ghịt lại. Nếu thuốc rút khô thì xức cái khác liền, liên tiếp vài lần, trĩ sẽ rụng.

 

CÔNG THỨC 4 : TRỊ BỆNH TRĨ NỘI NGOẠI

* Vỏ cây vú sữa                * Dây cốc kèn

* Lá ô rô tía                       * Vỏ cây sung

Bốn thứ bằng nhau, sao khử thổ, để vô nồi đất, nấu uống thường xuyên sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 5 : TRỊ BỆNH TRĨ NỘI NGOẠI

Cây lá mắc cỡ, cỏ mần chầu, rau dền gai – ba thứ bằng nhau, sắc 3 chén còn 1 chén, uống trong 15 ngày. Còn xác đem phơi khô, bỏ vô lò đốt, trùm mềm lại xông nơi hậu môn, nó sẽ rút vô mụt trĩ tiêu hết.

 

CÔNG THỨC 6 : TRĨ LÒI CON TRÊ RA MÁU

* Hoạt thạch tốt              : 5 chỉ                             Cam thảo              : 5 chỉ

* A tử (sao đen)             : 5 chỉ                             Túc xác                 : 5 chỉ

Các vị tán nhuyễn, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng canh.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ BỆNH TRĨ

Cây lá giới, chặt phơi khô, sao khử thổ, sắc uống chừng 3-5 siêu, trĩ sẽ thụt vô. Nước nhì và nước ba uống thay trà.

CHƯƠNG X

TRỊ CÁC CHỨNG BỆNH CỦA ĐÀN BÀ

CÔNG THỨC 1 : TRỊ SA TỬ CUNG

Hột đu đủ đực hoặc đu đủ dầu, đâm nhuyễn 5 hột, đắp ngay đỉnh đầu. Khám người bệnh nếu nó rút lên thì gở ra, đi gội đầu, nó sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 1 : TRỊ SA TỬ CUNG

Đọt đậu săn, đâm, để chút phèn chua, vắt lấy nước uống, ngày vài lần. Còn cây lá già thì phơi khô, nấu nước uống trong 15 ngày sẽ hết.

CÔNG THỨC 3 : TRỊ BỆNH ĐÀN BÀ LÀM BĂNG

Kiếm bứt 1 nắm rau răm, nhai nhỏ, nuốt từ từ sẽ cầm lại.

 

CÔNG THỨC 4 : TRỊ BĂNG HUYẾT

Đọt tre mỡ, hái cho nhiều, phơi khô, sao khử thổ. Lấy nồi đất hay siêu để sắc, sắc 3 chén còn lại 8 phân.

Cạo lọ nồi đất, vò viên bằng hạt bắp, để vô thuốc uống vài ba lần sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 5 : TRỊ BẠCH ĐÁI

Lá rau đắng biển ngoài ruộng, loại lá lớn, hái 1 nắm, đem nhồi với cơm nguội, nặn giống như trái chuối. Đem vô bếp nướng cho vàng, để vô siêu, nấu nước uống nhiều lần, bệnh sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ BẠCH ĐÁI

Rau om, 1 bó lớn, phơi khô, nấu nước uống thường xuyên sẽ khỏi.

Phương thuốc này còn trị chứng đau bụng lâu năm ở phụ nữ.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ VỀ UẤT HUYẾT, MÁU SẢN HẬU CHẬN, CẦN KHAI THÔNG CHO ĐỀU, KHỎI BỊ TẮC NGHẼN

Vỏ cây mảng cầu ta, phơi 1 nắm, hay dây bìm bìm hắc sửu, phơi khô. Sắc 3 chén còn 1 chén, uống sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 8 : TRỊ BỆNH BỊ BẾ KINH, SÓT NHAU ĐẠI TÀI

Rau tranh – 300 gram; rau răm – 50 gram; cỏ mực – 50 gram. Sao tồn tính cả ba thứ, sắc CÔNG THỨC 9 : TRỊ ĐAU VÚ

Lá tu hú cò gai, đâm với muối, đắp chổ sưng. Nếu khô chế nước sôi vô cho ướt. Mỗi ngày 2-3 lần sẽ khỏi. Ngâm lá với nước mưa cho ra nhớt, uống mát rất công hiệu.

 

CÔNG THỨC 10 : TRỊ BỆNH SƯNG VÚ

Đại hoàng, Tòng hương, Nhũ hương, Mộc dược.

Mỗi vị 2 chỉ, tán nhỏ thành bột, để lên lửa than xào cho nóng với chút giấm cho sền sệt. Lấy lông gà phết, vừa nóng vừa thổi để cho thuốc rút vô chỗ sưng, liên tiếp 24 giờ sau sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 11 : TRỊ BỆNH ĐAU VÚ ( KHÔNG MƯNG MỦ )

Rau tần dầy lá, nhai chút muối, đắp chỗ sưng vài ngày sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 12 : TRỊ ĐỘC TRÙNG NƠI HẬU MÔN HAY CỬA MÌNH, BỊ LỞ LOÉT LÀM ĐỘC

* Băng phiến                            : 3 phân             Long não             : 3 phân

* Đại hoàng                              : 3 phân           Phèn phi       : 1 phân

* Lưu hoàng hay hồng hoàng   : 2 phân

Tán các vị này thành bột. Trước khi phết thuốc này, lấy phèn chua đổ vô nước chín hay nước âm ấm, rửa cho sạch vết thương, lau khô, rắc thuốc này nơi chổ đau. Trong 3-5 ngày sẽ hết không làm độc.

 

 

CHƯƠNG XI

TRỊ CÁC CHỨNG BỆNH BƯỚU CỔ

 

THUỐC TRỊ BƯỚU CỔ

Hái lá Sộp già, sao vàng, sắc 3 chén còn 1 chén. Ngày uống 2 lần, còn xác đổ nước nấu uống thay trà, uống thường xuyên sẽ tiêu.

 

THUỐC BÓ TRỊ BƯỚU CỔ

Bướu càng ngày càng phát triển lớn theo cổ, khiến thở khó khăn.

Dùng lá nhàu tươi, 1 nắm, đâm nhuyễn, cho chút muối, đắp băng ở cổ mỗi ngày, tối thay cái khác, nếu khô thì chế thêm giấm thanh để có độ ẩm thì bướu sẽ xẹp dần.

THUỐC UỐNG TRỊ BƯỚU CỔ VÀ VIÊM AMIDAL

Lá mù u, hái phơi khô, đem sao tồn tính, tán thành bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 muỗng cà phê.

THUỐC TRỊ BƯỚU CỔ ( LĂN )

Trái bình bát, mãng cầu, nướng lửa than cho nóng, đem ra lăn trên bướu, ngày 3 lần, lăn chừng 4 trái. Trong uống ngoài thoa sẽ hết.

 

THUỐC BÓ TRỊ BƯỚU CỔ

Rau sam – 1 nắm; cây lá bạc đầu ông – 1 nắm; muối diêm – 1 muỗng cà phê : đâm chung 3 thứ, để lên vải, rắc thêm nửa muỗng cà phê muối diêm trên mặt, bó trong 1 tuần sẽ xẹp.

 

THUỐC BÓ TRỊ BƯỚU CỔ ( HIỆU NGHIỆM )

Cua đồng – 4 đến 5 con, đâm nhỏ

Đọt tre non mới lớn – 1 nắm

Vôi ăn trầu – 1 cục nhỏ bằng đầu ngón tay.

Đâm chung, đem bó chỗ bướu chừng nửa ngày, tối thay cái khác, bó chừng 3 ngày sẽ xẹp và teo lại.

Chú ý : Cần uống thêm thuốc bên trong.

 

CHƯƠNG XII

TRỊ CÁC CHỨNG BỆNH KHÁC

CÔNG THỨC 1 : CẤP CỨU NGƯỜI BỆNH ĐỜM LÊN MIỆNG NGUY HIỂM

Rút đọt cao non, đâm cho nát, để chút phèn, rơ miệng cho đờm vọt ra thì sẽ hết. Nếu gặp trường hợp như vậy nên áp dụng ngay.

 

CÔNG THỨC 2: TRỊ CHỨNG NẤC CỤT

Rễ cau vàng, rễ cau đỏ, rễ dừa lửa, rễ lựu bạch, bốn thứ bằng nhau, sao khử thổ. Sắc 1 chén rưỡi còn lại nữa chén. Chừng uống cho chút đường cát trắng vô, uống nội trong ngày sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 3 : TRỊ ĐAU YẾT HẦU

Lá cúc vàng, hái đâm nhuyễn, đổ vô chút mật ông, ngậm.

Hoặc lá khổ qua, đâm với mật ong, 1 cục phèn phi, đâm, rắc vô nửa muỗng cà phê, ngậm.

 

CÔNG THỨC 4 : VIÊM XOANG ( NƯỚC VÀNG HÔI TANH )

Dây mướp từ khúc gốc lên 4 tấc, đốt thành than, tán bột, mỗi ngày thổi vô lỗ mũi vài lần, làm trong 5-7 ngày sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 5 : THUỐC TRỊ XƯƠNG SỐNG CO GAI

Lấy tròng đỏ hột gà, vạt khế chua vô tròng đỏ, quậy cho đều, uống chừng 7 lần như vậy thì 7 ngày sau, gai sẽ tiêu, rất công hiệu.

 

CÔNG THỨC 6 : TRỊ VIÊM MŨI ĐẠI TÀI ( THUỐC XONG )

Hột nhãn, gọt bỏ vỏ đen, xắt mỏng, phơi khô, sao, tán nhuyễn, xông mũi.

 

CÔNG THỨC 7 : TRỊ VIÊM MŨI

Lá hay bông cà độc dược, hái phơi khô, xắt như thuốc, vấn hút, hít khói vô, nhiều lần sẽ hết.

CÔNG THỨC 8 : THUỐC NHỎ LỖ MŨI

Tỏi sống, đâm cho nhuyễn, pha với nước mưa, lược cho kỹ, ngày nhỏ vài lần, mũi sẽ thông.

 

CÔNG THỨC 9 : TRỊ CON NÍT BỊ ĐẸN ( CÓ HỘT TRẮNG TRONG LƯỠI )

Vỏ con hào, đem phi, tán nhỏ, hòa với dầu dừa, rơ miệng vài lần sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 10 : TRỊ BỊ PHỒNG DA

Chặt trái dừa xiêm, đổ nước ra tô, nhúng bông gòn vô nước dừa đắp trên vết phồng, làm liên tục sẽ tránh được phồng da và mau lành, uống thêm thuốc trụ sinh, ngày 3 lần.

 

CÔNG THỨC 11 : TRỊ LƯỠI ĐEN

Hột me, mài với nưới, lấy chất chát rơ vài lần sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 12 : TRỊ CÚP LƯNG

Cây chuối hột, chặt khúc đuôi, bó lá, chẻ làm đôi, đem nướng cho nóng, để lót khăn lên nằm cho ấm, mỗi ngày làm đôi ba lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 13 : TRỊ TÉ TỨC, Ứ MÁU BẦM ( NGÂM RƯỢU )

Lá mối, loại lá lớn, bứt luôn cả gốc rễ đem về chặt phơi khô, sao khử thổ, ngâm rượu, uống mỗi ngày 2-3 lần, máu bầm sẽ tan dần hết.

 

CÔNG THỨC 14 : TRỊ BỊ ĐÃ THƯƠNG, Ứ MÁU BẦM

Lấy dái mít, nướng thành than, tán nhuyễn, đỗ nước sôi vào uống, tan dần máu bầm.

 

CÔNG THỨC 14 : TRỊ NỨT CHÂN

Nấu nước cỏ xước, uống thường xuyên sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 16 : TRỊ BỆNH GIỜI ĂN CÙNG MÌNH

Lá mướp đâm, bỏ chút muối, xức vài lần sẽ hết.

 

CÔNG THỨC 17 : THUỐC PHẾT TRỊ PHỎNG LỬA

Dầu dừa, nấu cho thật sôi, bỏ tóc rối vô nấu chung. Lấy lông gà hay bông gòn chấm vô dầu phết cho đều nơi phỏng, 24 giờ sau tự nó sẽ lành và làm mài.

 

CÔNG THỨC 18 : THUỐC UỐNG TRỊ RẮN CẮN

Nửa hột mã tiền sống, mài với nước vo gạo, cạy miệng đổ vô, chừng 15 phút sẽ tỉnh lại. Trước đó cần cột Garô, lấy ống giác hút máu ở vết cắn.

 

19. CÔNG THỨC 19 : THUỐC ĐẮP TRỊ RẮN CẮN

Đào lấy rễ đu đủ, đâm với muối, đắp chổ rắn cắn, nọc sẽ ra hết. Trước đó, cần cột Garô và hút máu ở vết cắn.

CÔNG THỨC 20 : THUỐC UỐNG VÀ RỊT TRỊ RẮN CẮN

Bắt vài con rệp, đem bóp nát, để vô ly, chế chút rượu hay nước cho uống. Bắt thêm vài con nữa, bóp nát, đắp vô chỗ rắn cắn và cột lại. Trước đó, cần cột Garô và hút máu ở vết cắn.

 

CÔNG THỨC 20 : TRỊ PHỎNG CÙNG MÌNH ( THUỐC PHẾT )

Vỏ cây sung, vạt mài với giấm, phết vài lần sẽ khỏi.

CÔNG THỨC 22 : THUỐC UỐNG TRỊ RA MỒ HÔI, LẠNH 2 CHÂN, UỐNG CHO ẤM LẠI VÀ RÁO MỒ HÔI

Muối hột, chừng vài muỗng canh, đem rang cho nổ lên khói, xúc 1 muỗng nhai từ từ và uống nước nấu chín, nó    thuốc vô thân, đi tiểu ra chất độc, chân ấm lại, đổ mồ hôi.

 

CÔNG THỨC 23 : TRỊ MẮC XƯƠNG NHỎ

Lá rau dừa trắng hoặc tím, đâm để chút muối, để vô miệng ngậm và nuốt từ từ, xương sẽ tan dần.

 

CÔNG THỨC 24 : TRỊ SUY DINH DƯỠNG, GẦY ỐM, NƯỚC DA XẤU, ĂN UỐNG KHÔNG NGON

Bột bích chi, đổ trong xoong, xé mật heo, đổ vô bột, ngào lên lửa than cho khô, múc để vô keo, mỗi ngày uống 2 -3 lần.

 

CÔNG THỨC 25 : TRỊ KINH PHONG

Ở thôn quê xa Thầy xa Chợ, trẻ em thường bị chứng kinh phong bất ngờ, thật là khó khăn, vì sự lợi ích chung với tinh thần phục vụ, xin đóng góp cho bà con phương thuốc cứu cấp này để chữa trị trẻ em được bình phục vui chơi.

* Củ thiềng liềng, lùi xắt nhỏ              : 3 chỉ

* Củ sả, lùi xắt nhỏ                                       : 10 chỉ

* Thuốc cứu                                                 : 15 lá

* Vỏ quít tức trần bì, sao vàng           : 1 vỏ

* Rau húng cây                                  : 1 nắm

* Trà tàu                                            : 1 nắm

* Muối hột rang                                 : 1 muỗng cà phê

Các thứ để chung, đổ 3 chén nước lạnh, sắc còn 1 chén để nguội, cho uống từ từ 5 phút 1 lần, chứng kinh phong sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 26 : TRỊ TRÚNG GIÓ, BI ỈA MỬA, VỌP BẺ

Quế khâu, xắt nhỏ 1 nhúm.

Gừng nướng, 1 củ bằng tay cái, xắt mỏng.

Củ cỏ cú , 1 nhúm.

Hoắc hương, 2 nhúm.

Vỏ quít, xắt nhỏ 1 nhúm.

Đường cát, 1 muỗng canh lớn.

Các thứ này đổ chung vô tô, thêm vào nửa xị rượu trắng, đem chưng cách thủy, chế ra cho ấm, cứ 30 phút cho uống 1 lần, mỗi lần 1 muỗng canh, sẽ bớt ngay. Nếu còn thì tiếp cữ đêm, cách 2 giờ uống 1 lần, không nên uống nhiều.

 

CÔNG THỨC 27 : TRỊ XÂY XẨM CHÓNG MẶT, ĐI ĐỨNG KHÔNG VŨNG

Giá sống, luộc vừa chín, cho người bệnh ăn với cơm, ăn hằng ngày sẽ khỏi.

 

CÔNG THỨC 28 : THUỐC TRỊ SUY DINH DƯỠNG

Người ốm yếu xanh xao mất máu, mua 1 kg đậu đen lòng xanh, rửa sạch, bỏ sâu mọt, đem chưng cách thủy cho chín rồi đem phơi khô, sao tồn tính, tán thành bột, uống vài lần, trong vòng 10 ngày.

CÔNG THỨC 29 : NGƯỜI GẦY ỐM THIẾU MÁU CẦN LÊN CÂN

Cỏ Tây lông ( loại cho trâu ngựa ăn ), lúc đọt non từ ngọn xuống chừng 3 tấc, độ 1 nắm, đâm cho nhỏ, chế nước trái dừa xiêm vô, lược uống 5-10 ngày sẽ có máu và lên cân. Loại này co chất sinh tố bổ dưỡng không kém B1, B6, B12.

CÔNG THỨC 30 : THUỐC UỐNG CHO THÔNG KINH MẠCH

Vỏ mảng cầu ta - 100 gram; bìm bìm hắc sửu – 50 gram, sao tồn tính, sắc 3 chén con 1 chén, uống vài thang sẽ trở lại bình thường.

 

HẾT

PHẦN BỔ SUNG

suỐi nguỒn tươi trẺ - một bí quyết cổ truyền

Năm Thức Tập Bí Truyền Của Tây Tạng Nầy Sẽ Mang Lại Cho Bạn Những Gì

Luân xa là gì ?

Trong bài “Ma nhập, quỷ ám và phương pháp trừ tà” có nói đến 2 vùng Luân xa 6 và 7 dễ cho ma quỷ xâm nhập vào thể xác lẫn tinh thần. Vậy Luân xa là gì, đồng thời trong bài cũng đề cập đến mỗi người chúng ta có tất cả 7 vùng Luân xa, vậy nó nằm ở những huyệt nào ?

Như đã nói, toàn thân mỗi người đều có 7 vùng Luân xa năng lực; người Tây Tạng gọi đó là những điểm xoáy “Chakra”, trong khi người Hindu (Ấn Độ) gọi là “Luân Xa”. Có 7 luân xa căn bản và 21 trung tâm nhỏ hơn. 7 vùng Luân xa này có chứa năng lượng hào quang khu trú tại nhiều phần khác nhau trên cơ thể, đều có gốc là cột sống lưng, trừ luân xa xương trán ở trên đỉnh đầu (não bộ).

Tuy chúng ta không thể thấy, nhưng 7 vùng luân xa này là những điện trường cực mạnh và hoàn toàn có thực (nên những người có nhân điện cao luôn làm chủ được Luân xa thứ 7). Mỗi luân xa tập trung vào một trong số 7 tuyến nội tiết của cơ thể và nhiệm vụ của nó là kích thích sự sản xuất hóc-môn. Chính những hóc-môn này điều hành toàn bộ các chức năng của các cơ quan nội tạng trong người, nên nó mang cả tiến trình cho chúng ta sự sống và cái chết qua các giai đoạn “sinh bệnh lão tử”, vì thế theo thời gian chúng sẽ lão hóa dần đi tương ứng với tuổi thọ con người.

Để được khoẻ mạnh, để 7 vùng Luân xa hoạt động tốt chúng ta phải tập luyện. Nếu tập luyện thành công, người đó sẽ dễ dàng nhận thấy được các vùng huyệt Luân xa đang vận hành trong cơ thể con người. Vì trong mỗi vùng Luân xa, lúc đó chúng ta sẽ cảm thấy được các yếu tố mà chúng đang trực tiếp điều hành như các diễn giải như sau đây.

Hinh Luan XaHình 7 vùng Luân xa nằm trên thân thể mỗi người (đính kèm) :

Luân xa (1) hay luân xa thấp nhất tập trung ở tuyến sinh dục.

Luân xa (2) tập trung ở tuyến tụy trong vùng bụng.

Luân xa (3) tập trung tại tuyến thượng thân trong vùng đám rối dương (mạng dây thần kinh ở bụng).

Luân xa (4) tập trung tại tuyến ức ở vùng ngực.

Luân xa (5) tập trung ở tuyến giáp trạng nơi cổ.

Luân xa (6) tập trung ở tuyến tùng, tại đáy sau của não.

Luân xa (7) cao nhất, tập trung tại tuyến yên, nơi đáy trước của não.

Với người khỏe mạnh thì những luân xa đó làm lan tỏa sinh lực ra tận làn da bên ngoài; ngược lại với một cơ thể già nua bệnh hoạn thì những luân xa này hầu như không thể đẩy sinh lực lên đến bề mặt của thân thể. Vì thế, cách thức nhanh nhất để dành lại sự tươi trẻ, sức khỏe và sinh lực là làm sao cho những luân xa này hoạt động bình thường trở lại, tức bằng cách phải tập luyện.

Ðể đạt mục đích, người ta có 5 bài tập hay 5 “Thức” như tên gọi của các Lạt Ma trên Himalaya. Mỗi thức tự nó rất hữu ích, nhưng muốn có được những kết quả tối ưu thì không nên bỏ sót một thức nào mới thành công.

Luân xa 1 (tiếng Phạn: MULADHARA) vùng sinh dục

Theo các thánh thư, Luân xa 1 được xuất phát từ “Bà mẹ vũ trụ”, ở phương đông năng lực này được nhiều người biết đến với cái tên gọi Kundalini. Tuy nhiên năng lực từ vùng này có thể làm tổn thương cột sống.

Luân xa 1 tạo thành nền tảng cho sự sống tức cơ quan sinh dục, nếu Luân xa 1 hoạt động yếu, lập tức con người trở nên trầm uất, bạc nhược và có thể dẫn đến tình trạng ngất xỉu hôn mê.

Nhờ tính chất năng động, Luân xa 1 tạo ra khả năng thấy rõ quá khứ và vị lai.

Luân xa 2 ( tiếng Phạn: SVADHISTHANA ) vùng bụng

Chức năng chính của Luân xa 2 là bảo vệ sinh khí, giúp cho khí chất trong người và các cơ quan tiêu hoá hoạt động. Đây là Luân xa rất mạnh vì có thể kiểm soát được đời sống sinh dục từ Luân xa 1. Tuyến thượng thận (Luân xa 3) có liên hệ với vùng này, rất cần thiết cho sự sống, nên nếu ta cắt bỏ tuyến thượng thận, con người sẽ chết ngay.

Về mặt chiêm tinh học, Luân xa 2 có liên hệ với mặt trăng, nó thu nhận năng lượng của mặt trời và trung tâm trái đất rồi chuyển hoá thành thể khí chất cho chúng ta.

Người khoẻ mạnh sẽ chống lại các ảo tưởng, sự ghê tởm, xa xỉ, nghi ngờ, lãnh đạm và thường phát triển lòng thương yêu tất cả mọi sinh vật.

Luân xa 3 ( tiếng Phạn: MANIPURA) vùng thượng thận

Luân xa 3 được xem như một vị trí quan trọng, mặc dù không phải là một trung tâm lớn. Vị trí gần với rún (gần đám rối dương). Có sức mạnh cảm xúc do ước muốn và dây thần kinh xúc giác tạo nên, phần lớn ý thức của con người là do ở trung tâm này.

Đối với một người bình thường, Luân xa 3 thường là tác nhân gây ra các loại bệnh có nguồn gốc từ cảm xúc như bệnh đau bao tử và đường ruột, rối loạn gan mật.

Đặc tính của Luân xa 3 là sức nóng vì vậy nó tượng trưng cho Lửa, còn được gọi là nơi ” tổng hợp”, do tập trung tất cả các năng lượng bên dưới trước khi được đưa lên các phần bên trên của cơ thể.

Trong khoa chiêm tinh, Luân xa 3 tương ứng với sao Hoả và cho chúng ta thấy nó cộng hưởng với đời sống cảm xúc. Cho nên các tu sĩ theo “sa man giáo” có thể đi chân đất trên đám lửa hồng mà không cảm thấy đau đớn hoặc bị bỏng là vậy.

Muốn làm chủ được vùng trung tâm dương, con người phải thanh tẩy thói hư tật xấu, cương quyết chống lại mọi sự quyến rũ, kiêu căng, giận dữ, biếng nhác và sợ hãi.

Luân xa 4 ( tiếng Phạn : ANAHATA) vùng ngực

Luân xa 4 cho ngườichúng ta khả năng đọc được tâm tư nguyện vọng của người khác, đồng thời cũng biết rõ ham muốn và khả năng thực hiện ham muốn đó của chính mình. Trong quá trình thanh lọc tính vị kỷ, kiêu căng, tham lam, do dự và phát triển tình thân ái, vị tha, Luân xa 4 sẽ hoạt động tốt làm cho người tập luyện có được biệt tài chữa lành bệnh cho người khác, nhưng phải đạt trình độ “rung động siêu thức” mới làm được.

Luân xa 4 nhận được từ vũ trụ tia sáng màu Xanh lá cây đem năng lượng và sự nhịp nhàng đến cho quả tim hoạt động.Tia sáng màu xanh lá cây này làm quay Luân xa tim, đem máu đi nuôi khắp cơ thể.

Trong khoa chiêm tinh, Luân xa 4 tương ứng với sao Thuỷ, được kết hợp với không khí, thuộc về trực giác tâm linh.

Luân xa 5 ( tiếng Phạn:VISHUDDHA ) vùng cổ

Luân xa 5 ở tại vùng họng, đằng sau cổ, tượng trưng cho ý thức sáng tạo. Đây là điểm quan trọng nhất của thanh quản. Khi một người muốn diễn tả một điều bằng tư tưởng, lời nói hoặc hành động, phải đi qua trung tâm hầu họng. Thái độ chỉ trích hận thù, kết án, nói xấu người khác là nguyên nhân sinh ra bệnh tật đều nằm ở Luân xa 5.

Luân xa 5 tương ứng với sao Thổ và đại diện cho thể khí quang của vũ trụ (tiếng phạn Akasha). Khi Luân xa này Rung động sẽ đạt đến trạng thái siêu thức, người tập luyện có khả năng nghe được các giọng nói, hơi thở và cả tiếng nhạc từ xa vọng đến. Và khi Luân xa này phát triển hoàn toàn, sẽ cho chúng ta nhớ lại tiền kiếp, biết rõ quá khứ, hiện tại và tương lai của chính mình và người khác.

Luân xa 6 (tiếng Phạn: AJNA) vùng giữa hai lông mày

Luân xa 6 ở tại gốc mũi, giữa hai mắt và lông mày, báo cho chúng ta biết hai trung tâm trên cùng này hoàn toàn khác với các trung tâm mà chúng ta đã nghiên cứu trên đây. Chủ yếu giúp con người phát triển về mặt tinh thần. Chức năng chính của Luân xa 6 liên quan đến việc phát triển nhân cách thực sự của mỗi con người.

Trong trường hợp người đó không tự phát triển được nhân cách của mình, thì họ tìm cách bắt chước nhân cách của người khác, thậm chí ngay cả đến tư tưởng, lý tưởng và điệu bộ bên ngoài nữa. Một người như thế rất dễ bị ảnh hưởng từ môi trường xã hội chung quanh, sẽ tạo cơ hội thể hiện đời sống của mình theo những hiện tượng thấy từ bên ngoài, từ đó nảy sinh vấn đề tôn sùng thần tượng, chứng tỏ rằng trung tâm trán của người đó không hoạt động hoặc hoạt động rất ít.

Khi Luân xa 6 bắt đầu đạt đến trạng thái “rung động siêu thức”, người ta nhận thấy có những biến đổi sâu sắc trong tư duy và hành động. Một đôi khi sự phát triển của Luân xa 6 đem đến một số biểu hiện mới tạo ra rối loạn chẳng hạn như nhức đầu, rối loạn về tai, mắt. Vì đừng quên rằng Luân xa 6 là trung tâm thiên nhãn cho thấy rõ mọi vấn đề. Não và nhất là trán có thể bị nhiễu loạn vì luân xa trán hoạt động mạnh quá.

Luân xa 6 tương ứng với sao Kim nằm ở đáy não, dưới tầng não thứ ba, nhằm mục đích tái sinh các mô và tế bào đã hao mòn, đồng thời giữ cho cơ thể luôn ở trạng thái hài hoà.

Một khi Luân xa 6 đạt được trạng thái vô thức, con người có khả năng thấy rõ mọi sự, mọi vật, mọi người khác và có thể xoá bỏ nghiệp chướng mắc phải do lỗi lầm của mình. Đồng thời cũng cần biết rõ là có nhiều nguy hiểm đang chờ (giác quan thứ sáu).

Luân xa 7 (tiếng Phạn: SAHASRARA) vùng đỉnh đầu

Luân xa 7 nằm trên đỉnh sọ, tượng trưng cho cái thóp của thể khí quang (não hào quang). Nó giống như mặt trời toả ra hàng ngàn tia lửa lấp lánh ánh vàng. Đây là trung tâm lớn nhất và toả sáng nhiều nhất gồm 12 cánh hoa lớn màu trắng ánh vàng kim và 960 cánh hoa nhỏ hơn bao bọc chung quanh. Mỗi khi con người đạt đến cảnh giới của sự “rung động siêu thức”, Luân xa 7 trở nên hoạt động mạnh và bấy giờ chúng ta có thể thông suốt mọi điều. Với đặc tính năng động, Luân xa 7 ban cho con nguời thực hành khả năng kích động tất cả các huyệt Luân xa khác cũng như mọi quyền lực tinh thần.

Luân xa 7 là trạm cuối cùng, là trình độ tâm thức cao nhất, luôn là biểu tượng của quyền năng của con người trong thế giới siêu nhiên.

Về mặt chiêm tinh học, sao Thổ ngự trị luân xa này. Đây cũng là trung tâm ý chí của tinh thần. Cũng nên biết thêm rằng, đây là nơi giúp cho con người trực tiếp gặp gỡ các linh hồn, và còn giữ vai trò khá quan trọng trong thần giao cách cảm

Dồi dào sinh lực , tăng cường sự dẽo dai, bền bỉ , thân thể thon gọn.

Chữa trị viêm khớp

Chữa trị các chứng viêm xoang

Chữa trị đau nhức

Chữa trị các chứng bệnh về tiêu hóa.

Thân thể con người có 7 trung tâm năng lực. Người Tây Phương gọi đó là những điểm xoáy hay còn gọi là luân xa.

Tuy không thể trông thấy nhưng 7 luân xa nầy là những điện trường cực mạnh và chúng hoàn toàn có thực.

Mỗi luân xa tập trung vào một trong số bảy tuyến nội tiết của cơ thể và nhiệm vụ của nó là kích thích sản xuất hormone. Chính những hormone nầy điều hành toàn bộ các chức năng của các cơ quan nội tạng và đồng thời điều hành cả tiến trình lão hóa.

Luân xa đầu tiên hay luân xa ở thấp nhất tập trung ở tuyến sinh dục.

Luân xa thứ hai tập trung ở tuyến tụy trong vùng bụng.

Luân xa thứ ba đóng tại tuyến thượng thận (mạng dây thần kinh ở bụng).

Luân xa thứ tư đóng tại tuyến ức ở vùng ngực.

Luân xa thứ năm đóng ở tuyến giáp trạng nơi cổ.

Luân xa thứ sáu đóng ở tuyến tùng, tại đáy sau của não.

Và luân xa thứ bảy, luân xa đóng ở cao nhất, tập trung tại tuyến yên, nơi đáy trước của não.

Trong một cơ thể khỏe mạnh, cường tráng, sự hoạt động của những luân xa nầy thật mãnh liệt, giúp cho sinh lực của sự sống được trôi chảy qua các tuyến nội tiết. Nhưng nếu sự hoạt động của một hay nhiều luân xa đó bị trì trệ, thì dòng sinh lực của sự sống bị cản trở hoặc bế tắc và như thế đưa đến bệnh hoạn và già nua.

Vì thế, cách thức nhanh nhất để dành lại sức khỏe và sinh lực là làm sao để cho những luân xa nầy hoạt động bình thường trở lại. Để đạt đến mục đích nầy, chúng ta có 5 bài tập sau đây; mỗi một trong 5 bài nầy tự nó đã rất hữu ích cho bạn, nhưng nếu muốn có được những kết quả tối ưu thì bạn không nên bỏ sót một bài nào.

Những trung tâm năng lực nầy là những chuyển động xoáy cực nhanh. Khi tất cả đều xoáy với một tốc độ cực nhanh như thế thì cơ thể đang ở trong trạng thái toàn hảo. Khi có một hoặc nhiều luân xa bị chậm lại thì tuổi già và suy thoái bắt đầu tiến trình xâm thực.

 

I. Thức Thứ Nhất

Thức thứ nhất nầy là một phương pháp tập rất đơn giản. Mục đích cấp kỳ của nó là làm cho các luân xa xoáy nhanh trở lại.

Trong thức thứ nhất nầy, tất cả những gì mà bạn cần phải làm là giương thẳng 2 tay ra theo chiều ngang. Sau đó bạn xoay tròn cho đến khi hơi chóng mặt. Một điều mà bạn phải lưu ý đó là; xoay tròn từ trái sang phải.

 

Ngoài ra để giảm thiểu sự chóng mặt, trước khi bắt đầu quay tròn, bạn hãy tập trung tầm nhìn vào một điểm duy nhất nào đó trước mặt, và khi khởi sự quay, hãy hướng ánh mắt về cái điểm đó càng lâu càng tốt.

Khi xoay tròn nên hít thật sâu và thở ra thật dài. Khi xoay thì hai bàn chân phải di động, vì vậy nên giữ cho 2 gót chân chạm vào nhau. Như thế sẽ giúp cho mình cảm thấy thăng bằng bởi vì lúc nào mình cũng cảm thấy có điểm tựa ở trên 2 bàn chân.

II. Thức Thứ Hai

Tiếp theo thức thứ nhất là thức thứ hai và mục tiêu của thức nầy là nhằm kích thích hơn nữa bảy luân xa. Thức nầy cũng đơn giản như thức thứ nhất. Trong thức nầy người tập phải nằm dài trên sàn, mặt ngửng lên. Tốt nhất bạn nên nằm trên một tấm thảm dầy hoặc một tấm nệm bằng phẳng.

 

Một khi bạn đã nằm duổi lưng, thẳng người, hãy buông hai cánh tay dọc theo hông, gan bàn tay úp xuống sàn, giữ cho các ngón tay sát vào nhau. Tiếp đó bạn nhấc đầu lên, thu cầm vào ngực. Trong khi làm như thế, nhấc hai cẳng chân lên, đầu gối thẳng, trong thư thế thẳng đứng. Nếu có thể bạn hãy để hai chân vươn ngược lên trên thân về phía đầu, nhưng phải giữ cho 2 đầu gối thật thẳng.

Rồi từ từ thả đầu và hai cẳng chân xuống sàn nhà trong khi đầu gối vẫn giữ thẳng. Hãy thư giãn toàn bộ các cơ bắp sau đó, thực hành lại thức tập nầy. Trong khi thực hành bạn hãy tuân theo nhịp thở như sau: hít vào thật sâu khi bạn nhấc đầu và hai cẳng lên, thở ra toàn bộ khi bạn hạ đầu và hai chân xuống. Giữa những lần tập, trong khi bạn thư giãn cơ bắp, bạn vẫn tiếp tục hít thở theo nhịp vừa kể. Càng hít thở sâu thì càng tốt.

Nếu không thể giữ cho hai đầu gối được thật thẳng, thì bạn có thể cong chúng theo mức độ cần thiết. Tuy vậy nếu bạn tiếp tục luyện tập thức nầy, thì hãy cố để giữ cho 2 đầu gối càng thẳng càng tốt.

III. Thức Thứ Ba

Thức thứ ba nầy cần phải được thực hành ngay sau thức thứ hai. Tựa như thức trước, thức nầy cũng rất đơn giản. Tất cả những gì mà bạn phải làm là quỳ gối trên sàn nhà và giữ cho thân mình thẳng đứng, hai bàn tay áp sát vào đùi. Sau đó nghiêng đầu và cổ về phía trước, cằm thu vào ngực. Tiếp đến ngửa đầu và cổ ra phía sau càng xa càng tốt, đồng thời ngã người ra sau, cong hẳn cột sống. Khi cong mình như thế bạn hãy bám cánh tay và bàn tay lên đùi để làm điểm tựa. Cong người xong, hãy trở về với tư thế cũ và lập lại toàn bộ thức thứ ba nầy lần nữa.

Cũng tựa như thức thứ hai, ở thức thứ ba nầy bạn cũng phải điều hòa nhịp thở đúng như quy định. Bạn phải hít vào thật sâu khi cong cột sống và thở ra khi quay về với tư thế thẳng đứng. Hít thở sâu là điều rất hữu ích vì như thế bạn có thể đưa dưỡng khí vào buồng phổi càng nhiều càng tốt

]IV. Thức Thứ Tư

Trước tiên bạn hãy ngồi xuống trên sàn nhà, hai cẳng chân duỗi ra phía trước, hai bàn chân đặt cách nhau khoảng 20 cm, gan hai bàn tay úp xuống sàn, dọc theo mông.

Sau đó thu cầm về phía trước ngực. Tiếp đến, bạn hãy ngã đầu ra phía sau, càng xa càng tốt đồng thời nhấc thân mình lên sao cho đầu gối cong lại trong khi hai cánh tay trở nên thẳng đứng.

Với tư thế nầy, thân hình trở thành song song với sàn nhà, và thẳng góc với hai cánh tay và hai cẳng chân. Rồi bạn hãy gồng căng mọi cơ bắp của cơ thể.

Cuối cùng khi quay trở lại với thế ngồi ban đầu, bạn hãy thư giãn các cơ bắp và nghỉ một lúc trước khi lặp lại các động tác của thức tậpCũng vậy, thở là điều quan trọng trong thức nầy. Bạn hãy hít vào thật sâu khi nhấc thân mình lên và thở ra thật dài khi bạn hạ người xuống. Tiếp tục duy trì nhịp thở nầy khi bạn nghỉ ngơi giữa hai lần tập.

 

V. Thức Thứ Năm

Khi thực hành thức thứ 5, thân hình của bạn phải hướng xuống mặt đất, được chống đỡ bởi hai tay, gàn bàn tay áp xuống sàn nhà và các ngón chân ở trong tư thế cong lại.

Với thức tập nầy, bạn phải đặt hai bàn chân cách nhau khoảng 60 cm trong khi cánh tay và cẳng chân phải giữ thẳng.

Để bắt đầu bạn hãy chống hai tay thẳng đứng xuống sàn nhà và cong cột xương sống sao cho thân mình ở trong tư thế lún xuống.

Tiếp đó ngã đầu ra phía sau càng xa càng tốt rồi cong ở phần hông và đưa thân mình lên trên để tạo thành chữ V ngược. Đồng thời bạn hãy đưa cằm tới trước và áp sát vào ngực. Tất cả chỉ có thế.

Thực hành xong, bạn trở lại với tư thế ban đầu và lập lại toàn bộ thức tập nầy.

Sau tuần lễ đầu tiên, thông thường bạn sẽ thấy đây là một trong những thức tập dễ nhất. Một khi đã thuần thục rồi, bạn hãy để cho thân mình rơi xuống tới một điểm hầu như là chạm sàn nhà, nhưng không hoàn toàn chạm hẳn.

Hãy gồng căng các cơ bắp trong một lúc, kể cả khi thân bạn đang ở điểm cao cũng như khi hạ xuống thấp.

Tiếp tục hít thở sâu như đã áp dụng trong những thức trước đây. Hãy hít vào thật sâu khi bạn nâng người lên và thở ra hết khi bạn hạ người xuống.

Để bắt đầu, trong tuần lễ thứ nhất tôi khuyên bạn nên thực hành mỗi ngày một buổi, với ba lần cho mỗi thức tập. Rồi trong những tuần lễ kế tiếp, gia tăng thêm hai lần các buổi tập cho đến khi mỗi ngày bạn có thể thực hiện 21 lần cho mỗi thức. Nói cách khác, trong tuần lễ thứ hai, thực hành 5 lần cho mỗi thức; tuần lễ thứ ba, 7 lần; tuần thứ tư, 9 lần và cứ thế tiếp tục. Như vậy trong khoảng thời gian 10 tuần bạn sẽ có thể thực hiện đầy đủ 21 lần mỗi ngày cho toàn bộ 5 thức.

Nếu bạn gặp khó khăn trong việc thực hành thức thứ nhất -  xoay tròn -  theo cùng một số lần với những thức khác, thì bạn có thể chia ra làm nhiều lần để thực hành, sao cho đủ 21 lần mà không phải chóng mặt. Và tôi tin rằng cuối cùng bạn cũng có thể xoay tròn 21 lần như đã định.

Tôi biết có một người đã thực hiện những thức nầy trong hơn một năm ròng rã trước khi có thể xoay tròn nhiều lần như đã quy định ở thức thứ nhất. Ông ta có thể dễ dàng thực hành những thức khác, nhưng với thức xoay tròn nầy thì tiến rất chậm và phải cần một thời gian dài mới có thể thực hiện 21 lần xoay trong một lúc. Và sau đó ông ta đã đạt được những thành quả mỹ mãn.

Thế thì ta nên tập luyện những thức nầy vào lúc nào trong ngày?”

Bạn có thể thực hành vào buổi sáng hoặc buổi tối, tùy theo giờ giấc thuận tiện.

Vì bạn là người mới tập tểnh bước vào con đường tập luyện nên tôi không muốn thôi thúc bạn. Sau khi đã tập luyện những thức nầy được 4 tháng, bạn có thể bắt đầu dành thời gian để thực hành nhiều lần vào buổi sáng, và buổi tối bạn chỉ thực hành 3 lần cho mỗi thức.

Hãy tuần tự gia tăng số lần tập luyện như bạn đã làm trước đó, cho đến khi thực hành đủ 21 lần. Bạn không cần thực hành những thức nầy nhiều hơn 21 lần vào buổi sáng cũng như buổi tối, trừ khi bạn thật sự bị thôi thúc bởi sự luyện tập.

Tất cả những thức tập nầy đều có tầm quan trọng ngang nhau?

Năm thức tập nầy liên kết nhau để tác động lên cơ thể bạn và chúng cùng có chung một tầm quan trọng. Sau một thời gian tập, nếu bạn thấy không thể cùng một lúc thực hành các thức nầy theo số lần quy định, thì bạn hãy tách chúng thành hai buổi tập, một vào ban sáng và một vào buổi tối.

Nếu bạn cảm thấy khó khăn trong việc thực hành một thức nào đó trong 5 thức nầy thì hãy bỏ nó sang một bên để chú tâm vào việc thực hành 4 thức kia. Rồi vài tháng sau đó, hãy tập lại cái thức mà bạn đã thấy khó khăn và bỏ qua trước đây. Với cách nầy, kết quả sẽ đến chậm hơn nhưng dẫu sao thì nó cũng đến.

Khi tập luyện các thức nầy bạn không bao giờ nên gắng sức để thực hiện cho bằng được. Điều đó sẽ không mang lại cho bạn một lợi ích nào. Đơn giản ra, bạn chỉ nên làm tất cả những gì bạn có thể rồi từ từ tiến lên và đừng bao giờ nản chí. Với thời gian và kiên trì, cuối cùng rồi cũng như mọi người tập luyện khác, bạn có thể thực hiện cả 5 thức nầy 21 lần mỗi ngày.

Có thể nói đây là những thức tập đầy thần lực. Vì thế nếu bỏ hẳn một trong 5 thức trong khi bạn vẫn đều đặn và tập luyện đầy đủ 4 thức kia, thì bạn sẽ có được những kết quả tuyệt hảo.

Có hai điều sẽ giúp ích, nếu bạn biết kết hợp đúng đắn. Điều thứ nhất là, như tôi đã nói trước đây, bạn phải thở thật đều và sâu trong những lần nghỉ giữa hai thức tập. Ngoài ra, giữa hai thức tập, bạn nên đứng thẳng người, hai tay đặt lên hông trong khi vẫn thở đều đặn duy trì nhịp thở sâu. Khi thở ra bạn hãy tưởng tượng rằng mình đang đẩy ra mọi căng thẳng đang chất chứa bên trong cơ thể, để như thế bạn cảm thấy thư giãn và nhẹ nhỏm. Khi bạn hít vào, hãy tưởng tượng rằng bạn đang rót đầy vào mình một cảm giác thoải mái và toàn mãn.

Điều thứ hai là sau khi tập, bạn nên tắm bằng nước ấm hoặc nước mát. Hoặc tốt hơn bạn nên lau người lẹ làng bằng một khăn ẩm, rồi sau đó dùng khăn khô để lau lại. Một điều tôi khuyên bạn nên tuyệt đối tránh là: tắm bằng nước lạnh hay lau bằng khăn ướt quá lạnh. Vì như thế bạn có thể bị thấm lạnh vào trong. Và nếu làm như thế thì bạn đã loại bỏ tất cả những gì tốt đẹp mà bạn đã gặt hái qua 5 thức tập.

Nói tóm lại, bạn chỉ mất khoảng 20 phút để thực hành 5 thức nầy. Và nếu bạn là người có đầy đủ thể chất, thì bạn có thể thực hành chúng trong vòng 10 phút hoặc ít hơn. Nếu bạn phải bề bộn suốt ngày, không có thời giờ luyện tập, thì nên dậy sớm vài phút vào buổi sáng, hoặc đi ngủ hơi muộn vào buổi tối hầu dành ra đôi chút thời gian để tập luyện.

Lời của người đã tập luyện: Nếu bạn cương quyết lấy lý do bận rộn để không thực tập các thức nầy gì hết thì tức là bạn đã chọn cho mình một con đường đau yếu, đủ thứ bệnh tật, sống cũng không được mà muốn chết cũng không được. Lúc đó có than trách Trời Đất thì đã quá trễ.



Phát hiện mới trong chẩn đoán và điều trị bệnh Huntington

Phát hiện mới về gen liên quan đến bệnh Huntington đã mở ra hy vọng mới trong điều trị, giúp cải thiện các triệu chứng run, rối loạn vận động.

Huntington là bệnh di truyền thần kinh do đột biến gen, thường gặp ở độ tuổi 30 đến 50. Bệnh có một số triệu chứng tương tự như bệnh Parkinson (run tay chân, chậm vận động, co cứng cơ…), do đó có thể bị chẩn đoán nhầm là bệnh Parkinson ở người trẻ. Nghiên cứu gần đây đã phát hiện ra gen có liên quan đến sự chết dần của các tế bào não ở bệnh Huntington, sẽ giúp chẩn đoán phân biệt và mở ra hướng mới trong nghiên cứu điều trị bệnh triệt để.

Bệnh Huntington có thể gây run tay và rối loạn vận động

Bệnh Huntington là một bệnh lý di truyền, xảy ra dỗ khiếm khuyết về gen trên nhiễm sắc thể số 4. Nếu một người có cha hoặc mẹ đã mắc bệnh Huntington thì có 50% nguy cơ sẽ nhận được gen mắc bệnh này và có thể truyền đến các thế hệ sau.
Ở các thế hệ sau, bệnh có xu hướng nặng hơn và xuất hiện ở độ tuổi ngày càng trẻ. Tuy nhiên nếu nguyên nhân bệnh không phải do di truyền thì các thế hệ sau sẽ không mang gen bệnh. Tỷ lệ mắc bệnh ở hai giới là như nhau và chiếm khoảng 1/10.000 người.

Run tay chân, suy giảm trí nhớ là triệu chứng thường gặp ở người bệnh Huntington

Bệnh Huntington tiến triển chậm và thường có một số triệu chứng điển hình như:
-    Rối loạn vận động, hành vi: Người bệnh sẽ xuất hiện các triệu chứng run tay, chân, không kiểm soát được cử động, dáng đi không ổn định, chậm chuyển động; tay chân, mặt hay một số bộ phận khác cử động nhanh, bất chợt, lắc vẫy; rối loạn cử động mặt… Ở trẻ em, chứng run và chậm chuyển động là những dấu hiệu sớm của bệnh, đặc biệt ở những đứa trẻ có tiền sử gia đình mắc bệnh Huntington.
-    Rối loạn tâm thần: Với các biểu hiện ảo giác, buồn rầu, lo âu, tâm trạng bồn chồn không yên, thường xuyên lo lắng, căng thẳng, tính tình thay đổi bất thường…
-    Một số rối loạn, suy giảm chức năng khác: Giảm trí nhớ, sa sút trí tuệ, giảm khả năng nói, phát âm yếu, khó nuốt…
Khi xuất hiện các triệu chứng trên nên sớm khám về bệnh Huntington để được tiến hành các xét nghiệm về não, kiểm tra phản xạ, gen và tiền sử gia đình, từ đó có chẩn đoán chính xác tình trạng bệnh và phương pháp điều trị kịp thời giúp cải thiện các triệu chứng, làm chậm tiến trình bệnh.

Phát hiện mới giúp điều trị bệnh Huntington, cải thiện chứng run và rối loạn vận động

Hiện nay chưa có phương pháp nào điều trị khỏi hẳn được bệnh Huntington hay ngăn chặn được quá trình thoái hóa tế bào thần kinh ở bệnh. Mục tiêu điều trị là làm chậm sự phát triển các triệu chứng, duy trì các chức chức năng bình thường của bệnh nhân, đặc biệt là giám sát, chăm sóc người bệnh hàng ngày để ngăn ngừa nguy cơ tử vong sớm do nhiễm trùng, trầm cảm…

Phát hiện được gen gây tổn thương tế bào thần kinh ở bệnh Huntington

Các nhà nghiên cứu của trường Boston University School of Medicine (BUSM) đã phát hiện ra một loại gen microRNA gây độc lên các tế bào thần kinh ở não, làm các tế bào bị suy thoái và chết dần. Việc xác định được nồng độ của gen này có thể giúp đánh giá được mức độ thoái hóa của tế bào thần kinh và hiệu quả của các phương pháp điều trị, từ đó mở ra hướng điều trị mới cho bệnh Huntington, giúp cải thiện hữu hiệu các triệu chứng run tay, rối loạn vận động và làm chậm tiến trình của bệnh.

Tiến sĩ Richard H. Myers, Viện trưởng Viện Khoa học nghiên cứu Gen tại BUSM cho biết: “Phát hiện này không chỉ giúp điều trị bệnh Huntington mà còn giúp chẩn đoán sớm bệnh ở những người mang gen nhưng chưa xuất hiện triệu chứng, từ đó có thể can thiệp điều trị sớm để trì hoãn thời gian khởi phát bệnh, giúp nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh”.

Các nhà khoa học dự đoán gen microRNA cũng có thể là dấu hiệu quan trọng để đánh giá mức độ tổn thương tế bào não ở các bệnh thần kinh khác như Parkinson, Alzheimer. Những nghiên cứu sâu hơn đang được tiến hành trên người bệnh Parkinson, mở ra hy vọng mới trong chẩn đoán và điều trị các bệnh thoái hóa tế bào thần kinh.

Ds. Minh Phương
Trích nguồn: http://www.medicalnewstoday.com/releases/290264.php

7 bài tập thể dục tốt nhất cho người bệnh Parkinson

Người bệnh Parkinson tập thể dục mỗi ngày sẽ giảm được các triệu chứng run, cứng cơ, khó di chuyển do bệnh gây ra và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Khi mới được chẩn đoán Parkinson hoặc bệnh đã tiến triển, việc dành thời gian để tập luyện thể dục mỗi ngày thông qua các bài tập phù hợp có thể giúp người bệnh giảm được triệu chứng run, cứng cơ, làm chậm tiến triển bệnh và nâng cao chất lượng cuộc sống.

Tập thể dục dưới nước giúp giữ thăng bằng trong bệnh Parkinson

Các bài tập dưới nước rất phù hợp với người bệnh Parkinson, đặc biệt với những người lớn tuổi vì các khớp xương không phải chịu nhiều áp lực. Bài tập này còn tương đối an toàn, giảm thiểu được nguy cơ chấn thương, đặc biệt khi tình trạng bệnh đã ở giai đoạn nặng. Tập luyện thể dục dưới nước giúp cải thiện phạm vi chuyển động, duy trì sự linh hoạt của các khớp xương, giúp người bệnh giữ thăng bằng tốt hơn, giảm tình trạng viêm khớp và thư giãn các bắp cơ.

Tập dưỡng sinh mang lại giấc ngủ ngon cho người bệnh Parkinson

Khi tập dưỡng sinh cũng như Yoga thường xuyên sẽ giúp người bệnh duy trì sự hài hòa, mang lại sự khỏe khoắn về cả thể chất lẫn tinh thần. Người bệnh Parkinson hay gặp phải tình trạng trầm cảm, lo âu và đặc biệt là mất ngủ, vì vậy tập dưỡng sinh hoặc ngồi thiền giúp họ thư giãn và có giấc ngủ tốt hơn. Tập thể dục dưỡng sinh có nhiều loại hình khác nhau, vì vậy với mỗi người bệnh cần căn cứ vào khả năng và thể trạng của mình để lựa chọn một loại hình phù hợp nhất.

Tập thể dục tốt cho người bệnh Parkinson

Kéo căng cơ bắp

Đây là một trong những bài tập đơn giản nhất với người bệnh Parkinson, họ có thể tập tần suất vài lần mỗi ngày. Do bài tập này không mất nhiều thời gian và dễ thực hiện nên người bệnh chỉ cần bỏ ra vài phút trong ngày để kéo căng các cơ bắp là có thể cải thiện đáng kể phạm vi chuyển động, giảm tình trạng co thắt, cứng, yếu cơ, giảm viêm khớp xương và tăng sự linh hoạt cho họ.

Làm vườn để vận động cơ-xương-khớp

Bạn có biết làm vườn thực sự là một phương pháp tập thể dục tuyệt vời cho người bệnh Parkinson. Đây là cách hay để tập thể dục mà không mất quá nhiều sức cho người bệnh. Họ chỉ cần dành ra 10 phút mỗi ngày để cắt tỉa cỏ dại hoặc chăm sóc khu vườn, thậm chí không làm gì cả mà chỉ đi bộ trong vườn cũng giúp xương khớp trở nên linh hoạt hơn, toàn bộ các cơ lưng, cánh tay, vai, ngực, chân… cũng được vận động đều đặn và toàn diện. Bên cạnh đó, việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời và thiên nhiên trong vườn còn giúp cải thiện tâm trạng, tạo tâm lý thư thái, thoải mái và nâng cao trạng thái tinh thần cho người bệnh.

Đi bộ

Đi bộ là một lựa chọn tốt để tập luyện thể dục, không chỉ đối với người bệnh parrkinson mà còn với nhiều bệnh khác. Đi bộ giúp làm giảm tình trạng viêm khớp, giảm co cứng cơ bắp, hạn chế căng thẳng và là liệu pháp thư giãn, giúp người bệnh Parkinson có một giấc ngủ tốt hơn. Vì vậy, nếu muốn duy trì và cải thiện khả năng vận động, giảm tình trạng co cứng cơ thì người bệnh nên dành một khoảng thời gian nhất định trong ngày cho việc đi bộ.

Khiêu vũ

Khiêu vũ là một trong những cách hay để bệnh nhân Parkinson tìm thấy niềm vui trong cuộc sống. Khi khiêu vũ, họ phải liên tục di chuyển, đây là chìa khóa để duy trì sự bền bỉ và linh hoạt của cơ khớp. Đồng thời, tham gia các lớp khiêu vũ cũng giúp người bệnh có cơ hội tiếp xúc với nhiều người, giúp họ hòa nhập với cộng đồng và làm giảm đáng kể tình trạng trầm cảm, mất ngủ.

Khiêu vũ tốt cho người bệnh Parkinson

Tập Yoga giúp cải thiện tinh thần người bệnh Parkinson

Tập Yoga có nhiều lợi ích với sức khỏe và tinh thần người bệnh. Các bài tập thở giúp thư giãn tâm lý và toàn bộ cơ khớp trong cơ thể, từ đó giúp giảm lo lắng, giảm các triệu chứng trầm cảm. Các bài tập tư thế đòi hỏi phải căng dãn cơ thể cũng giúp cải thiện tính linh hoạt xương khớp và phạm vi chuyển động, đặc biệt là khả năng giữ thăng bằng khi di chuyển.

Tập luyện thể dục bằng một số phương pháp như tập đi bộ, Yoga, khiêu vũ là cách tuyệt vời không chỉ giúp cải thiện triệu chứng của bệnh Parkinson mà còn tạo cơ hội cho người bệnh được tiếp xúc với cộng đồng và cảm thấy có ý nghĩa hơn trong cuộc sống, đây là chìa khóa đề bệnh nhân có thể chống lại những tiến triển của căn bệnh này.

Nguyễn Đôn
Nguồn: http://www.parkinsonsassociation.org/parkinsons-disease/7-parkinsons-exercises-modes-to-help-you-feel-better

Mười hai động tác dưỡng sinh chào buổi sáng

 



12 động tác tập dưỡng sinh trên mô hình.

Động tác 1: Hai bàn tay chắp trước ngực sát xương ức, lưng thẳng. Thở ra hết sức, tập trung ‎ấn để khởi động.
Động tác 2: Đưa hai tay lên trên và ưỡn lưng hết mức, hai ngón tay cái sát vào nhau. Hít vào, tập trung ‎ấn vào vùng thắt lưng. 
Động tác 3: Gập người lại, bàn tay chạm đất, trán chạm đầu gối. Thở ra, tập trung ‎ấn vào bụng đang co lại. 
Động tác 4: Hai bàn tay chống đất, đưa chân phải về phía sau, cổ và ngực ưỡn hết mức. Hít vào, tập trung ấn vào cơ cổ đang căng thẳng. 
Động tác 5: Đưa nốt chân trái về phía sau, đưa mông lên cao, người gập thành hình chữ V ngược. Mắt nhìn vào rốn, cằm đè lên xương ức. Ngừng thở, tập trung ấn vào vùng rốn. 
Động tác 6: Chao người xuống tư thế nằm sấp, bụng không chạm đất, chỉ có hai bàn tay, hai đầu gối và hai hàng ngón chân chạm đất. Thở ra, tập trung ấn vào động tác hạ người xuống. 
Động tác 7: Ưỡn cổ và ngực hết mức. Hít sâu, tập trung ấn vào các đốt sống thắt lưng đang bị dồn lại. 
Động tác 8: Đưa mông lên cao trở về tư thế chữ V ngược. Ngừng thở, tập trung ấn vào vùng rốn. 
Động tác 9: Đưa chân phảI lên, đầu và ngực ưỡn ngửa như động tác 4. Ngừng thở, tập trung ấn vào cơ cổ. 
Động tác 10: Trở về như động tác 3. 
Động tác 11: Vươn tay, ưỡn ngực như động tác 2. 
Động tác 12: Đưa hai tay chắp trước ngực như động tác1

phương pháp thực hành dưỡng sinh

Động tác 1 ;

Hình ảnh
Trước khi tập để 2 - 3 phút làm thư giãn cho cơ thể làm chủ lấy mình, điều khiển thư giãn để cho cơ thề luôn luôn trở về thư giãn sau mỗi động tác, vì có thư giãn cơ thể mới lấy lại sức lực, lấy lại được quân bình trong cơ thể. Phải tự kiểm tra mỗi ngày về thư giãn bằng cách đưa tay thẳng lên (hưng phấn) rồi buông xui cho nó rớt xuống theo quy luật sức nặng (ức chế).


Ðộng Tác 2 : "Thở 4 thời có kê mông và giơ chân"
Hình ảnh
Ðây là kỹ thuật cơ bản của phương pháp dưỡng sinh đã trình bày ở trên. Nên xem lại lý luận và thực tập cho kỹ, động tác này chủ yếu là tập trung hưng phấn và ức chế, đồng thời cũng tập hít vô tối đa, giữ hơi, tuyệt đối.

Biến thể : Biến thể là cách tập có biến đổi khác 1 chút. Thay vì đưa một chân lên 20cm và giữ yên trong thời 2, ta làm dao động cái chân ấy, đưa qua đưa lại, hoặc đưa lên đưa xuống, mỗi cái đưa như thế là 1 giây. Tuỳ theo sức mình, thời giữ hơi sẽ được hai, bốn, sáu giây, rồi để chân xuống thở ra (thời 3) là nghỉ (thời 4).

Ðộng tác 3 : Ưỡn cổ
Hình ảnh
Chuẩn bị : Bỏ gối dưới mông ra. Hai tay để xuôi trên giường. Lấy điểm tựa ở xương chẩm và mông.

Ðộng tác : Ưỡn cổ và lưng hổng giường đồng thời hít vô tối đa; thời 2 giữ hơi, dao động lưng qua lại từ 2 - 6 cái (không cho thiếu ôxy); thở ra triệt để có ép bụng. (Nếu không đủ sức thì không làm dao động). Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở, không hạ lưng xuống giường. Chừng nào xong động tác mơi hạ lưng xuống nghỉ.

Tác dụng : Tập các cơ phía sau lưng, tập cột sống trong vùng ngoan cố không cho cứng, dao động qua lại để tăng công hiệu động tác, làm cho khí huyết lưu thông , làm cho ấm vùng cổ, gáy, lưng trên, làm cho mồ hôi ra, chống thấp khớp, trị cảm cúm.

Ðộng tác 4 : Ưỡn mông
Hình ảnh
Chuẩn bị : Lấy điểm tựa ở lưng trên và 2 gót chân.

Ðộng tác : Ưỡn mông làm cho thắt lưng, mông và chân đều hổng giường, đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại, mỗi lần dao động cố gắng hít vô thêm, dao động từ 2 - 6 cái; thở ra và ép bụng thật mạnh, đuổi hơi ra triệt để. Thở và dao động; như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 4).

Tác dụng : Co thắt các cơ thắt lưng, mông và phía sau 2 chân làm cho ấm vùng ấy; trị đau lưng, đau thần kinh toạ và thấp khớp; làm đổ mồ hôi, trị cảm cúm.

Ðộng tác 5 : Bắc cầu
Hình ảnh
Chuẩn bị : Lấy điểm tựa ở xương chẩm, hai cùi chỏ và 2 gót chân

Ðộng tác : Làm cho cả thân hình cong vòng, hỏng giường từ đầu đến chân, đồng thời hít vô tối đa, giữ hơi, làm dao động qua lại tuỳ sức, từ 2 đến 6 cái ; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 đến 3 hơi thở.

Tác dụng : Cộng hai tác dụng của hai động tác ưởn cổ và ưởn mông. Trị cảm cúm làm đổ mồ hôi, bớt đau ở cổ lưng và chân. Làm cho khí huyết lưu thông lên xuống dài theo cột sống, tác động đến giao cảm thần kinh dài theo vùng cổ, lưng và chân. Làm cho các cơ phía sau thân càng mạnh thêm, chống khòm lưng và già nua.

Ðộng tác 6 : Ðộng tác hạ góc hay tam giác.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa, lót hai bàn tay úp xuống kề bên nhau để dưới mông, 2 chân chống lên, bàn chân gần đụng mông.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi. Trong lúc ấy dao động ngã hai chân qua bên này rồi bên kia đụng giường mỗi lần ngã 1 giây, cố gắng hít hơi vô thêm nữa, từ 2 - 6 cái: thở ra bằng cách co chân và ép chân trên bụng để duỗi hơi ra triệt để; xong để chân xuống. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. Ðộng tác này gọi là động tác "Ba góc" vì đầu gối vẽ hình ba góc. (Hình 6, 6a, 6b).

Tác dụng : Vận động tất cả tạng phủ trong bụng, khí huyết được đẩy đi tớinơi hiểm hóc nhất của lá gan, lá lách dạ dày, ruột, bộ sinh dục phụ nữ, vận động vùng thận và thắt lưng, giúp trị bệnh gan, lách, u vị, bệnh phụ nữ và các bệnh đau lưng.

Biến thể: Chuẩn bị : Ðể hai tay dưới mông như trên. Chống hai chân dang xa ra độ 40cm cho chân không vường.

Ðộng tác : Hít vô một hơi tối đa; giữ hơi đồng thời dao động bằng cách hạ một đầu gối vào phía trong xuống sát giường và thay phiên nhau hạ đầu gối bên kia từ 2 - 6 cái; thở ra như trên. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 6c, 6d).

Tác dụng : Tác dụng như động tác 3 góc, và theo kinh nghiệm của học viên dưỡng sinh, lại có thêm tác dụng làm bớt đi tiểu đêm.

Ðộng tác 7: Cái Cày
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ðầu không kê gối, hai tay xuôi, chân duỗi ngay.

Ðộng tác : Cất chân lên phía đầu càng thấp, cơ thể đụng giường càng tốt, đồng thời hít vô tối đa;, giữ hơi, hai tay co lại vịn hai mào chậu để kềm cho vững rồi dao động hai chân qua lại, từ 2 - 6 cái tuỳ sức; thở ra có ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở.(Hình 7, 7a).

Tác dụng : Vận động cơ vai, cổ, vùng ngoan cổ và cơ phía trước thân, khí huyết dồn lên đầu, huyết áp tối đa và tối thiều có thể tăng từ 0,5 - 2,0 cm thuỷ ngân, vì có trở ngại trong tuần hoàn. Ðộng tác dao động vận động các cơ hóng làm cho tạng phủ càng bị xoa bóp. Tác dụng rất tốt đối với những người tuần hoàn kém ở đầu và ở người huyết áp thấp, hay chóng mặt, nhức đầu. Thận trọng đối với người huyết áp cao.

Ðộng tác 7 bis : Trồng chuối
Hình ảnh
Chuẩn bị : Như động tác Cái cày.

Ðộng tác : Chân đưa thẳng lên trời, tay co lại chống vào mông để làm chỗ tựa cho vững, thở tối đa và triệt để có trở ngại từ 1 - 3 hơi thở. Dao động trong động tác này có thể làm trong thời 2 bằng cách đánh chân trước sau thay phiên hoặc dang ra khép lại (Hình 7 bis, 7 bis a).

Tác dụng : Ðây là một động tác dồn máu lên đầu với cột máu có áp suất cao gần bằng bề cao của người tập, do độ mà huyết áp ở đầu lên cao hơn huyết áp trong động tác Cái cày. Rất nguy hiểm đối với người cao huyết áp nên cấm làm. Những người áp huyết bình thường hoặc thấp, tuổi không cao (dưới 50) thì động tác này rất bổ ích. Theo Yôga nó giải quyết được bệnh suy nhược thần kinh (thay đổi máu lên óc), điều hoà tuyến nội tiết, tăng cường tuần hoàn ở cổ và đầu, làm bớt xung máu trong bệnh trĩ, có ảnh hưởng tốt đến toàn bộ cơ thể. Hai động tác "Cái cày" và "Trồng chuối" khác nhau ở mức độ nên tuỳ theo sức chịu đựng của cơ thể mà quyết định nên làm động tác nào, hoặc không nên làm. Phải bảo đảm an toàn tuyết đối cho người tập không xảy ra tai biên mách máu não.

Ðộng tác 8 : Nẩy bụng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa, co hai chân sát mông, hai bàn chân úp vào nhau, đầu gối bật ra hai bên, hai tay xuôi trên giường.

Ðộng tác : Nẩy bụng và ưởn cổ, làm cho cơ thể chỉ tựa trên xương chẩm, hai cùi chõ và hai bàn chân, cái mông cũng bổng giường, hai đầu gối cố gắng sát giường, đồng thời hít vô tối đa; qua thời 2 giữ hơi và dao động nhờ sứcmạnh của cùi chõ và hông, từ 2 - 5 cái; thở ra ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 8, 8a).

Tác dụng : Vận động cơ ở phía sau thắt lưng, đùi, hông và bụng, xoa bóp nội tạng bụng. Trị bệnh đau lưng và bệnh phụ nữ.

Ðộng tác 9 : Vặn cột sống và cổ ngược chiều.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm 1 bên, co chân lại, chân dưới để phía sau, tay trên nắm bàn chân dưới, bàn chân trên để lên đầu gối chân dưới và đầu gối chân trên sát giường, tay dưới nắm đầu gối chân trên.

Ðộng tác : Vận động cột sống và cổ ngược chiều, hít vô tối đa, trong thời giữ hơi dao động cổ qua lại từ 2 - 6 cái thở ra triệt để có ép bụng. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở rồi đổi bên kia. (Hình 9).

Tác dụng : Vận động cột sống chung quanh đường trục của nó một cách tối đa như " vắt áo cho hết nước", dao động cổ qua lại làm cho các đốt xương cổ, dây chằng, mạch máu, thần kinh, khí quản, thực quản, thanh quản được xoa bóp mạnh, khí huyết được lưu thông tối đa, các khớp xương hoạt động tối đa không xơ cứng, giải quyết được các bệnh đau khớp cổ hay trặc cổ, bệnh thanh quản. Thở có trở ngại đẩy khí vào vùng gan lá lách rất mạnh, phòng và chữa các bệnh lá lách và gan.

Ðộng tác 10 : Chiếc tàu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sắp, tay xuôi, bàn tay nắm lại.

Ðộng tác : Ưởn cong lưng tối đa, đầu kéo ra sau nổi lên khỏi giường, hai chân sau để ngay và ưỡn lên tối đa, hai tay kéo ra phía sau hổng lên, như chiếc tàu đi biển, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động : nghiêng bên này, vai chấm giường, nghiêng bên kia, vai chấm giường từ 2 - 6 cái (như chiếc tàu bị sóng nhồi); thở ra có ép bụng. Làm như thế tuỳ sức từ 1 - 3 hơi thở (Hình 10, 10a).

Tác dụng : Vận động toàn bộ các cơ phía sau thân, do đó rất công hiệu để chống lại già nua, còng xương sống. Tăng cường tuần hoàn khí huyết ở cột sống, chống cảm cúng và suy nhược thần kinh.

Chú ý : Ðể tăng cường tác dụng, có hai tay cầm 2 quả tạ nhỏ, mỗi quả nặng không quá 250g.

Ðộng tác 10 bis : Ngựa trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sấp, hai tay co lại, chống lên giường và ôm đầu, hai chân co lên sát mông.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, đồng thời hai tay ôm đầu, bật đầu ra phía sau tối đa, gỏ cứng bụng đưa lên hổng giường, ễn lưng thật mạnh: giữ hơi, dao động đầu, cổ, vai. Qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 10 bis, 10 bis a).

Tác dụng: Vận động bụng và lưng, trị đau lưng và làm mạnh cơ bụng, tại thấp khớp vai.

Ðộng tác 11 : Rắn hổ mang.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sấp, hai bàn tay để hai bên, ngang thắt lưng ngón tay hướng ra ngoài.

Ðộng tác : Chống tay thẳng lên, ưỡn lưng, ưỡn đầu,ra phía sau tối đa, hít vô tối đa trong thời giữ hơi, dao động thân và đầu theo chiều trước sau từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và vặn mình, vẹo cổ qua 1 bên, cố gắng nhìn cho được gót chân bên kia. Hít vô tối đa có trở ngại; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái quay sang bên kia thở ra triệt để, cố gắng nhìn gót chân đối xứng. Làm động tác và thở như vậy từ 2 - 4 hơi thở. (Hình 11, 11a).

Tác dụng : Vận động các cơ ở lưng, hông và cổ, làm cho khí huyết ở các vùng ấy chạy đến, thở có trở ngại đẩy khí huyết chạy đến nơi hiểm hóc nhất của gan, lách và phổi. Phổi mỗi bên nở ra tối đa, chống được xơ hoá và hiện tượng dính ở màng phổi sau khi bị viêm.

Ðộng tác 12 : Sư tử.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm sắp, co hai chân để dưới bụng, cằm đụng giường, hai tay đưa thẳng ra trước.

Ðộngtác : Ðầu cất lên ưỡn ra phía sau tối đa, hít vô tối đa; thời hai giữ hơi, dao động thân trên và đầu qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra ép bụng. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 12).

Tác dụng : Vận động cổ, ot các khớp xương vai, tuyến giáp trạng làm cho khí huyết lưu thông đến các vùng này. Trị bệnh khớp vai.

Ðộng tác 13: Chào mặt trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi một chân co dưới bụng, chân kia duỗi ra phía sau, hai tay chống xuống giường.

Ðộng tác : Ðưa hai tay lên trời, thân ưỡn ra sau tối đa, hít vô thuận chiều; trong lúc giữ hơi, dao động thân trên và đầu theo chiều trước sau từ 2 - 6 cái; hạ tay xuống chống giường, thở ra tối đa thuận chiều có ép bụng. Làm như vậy từ 1 - 4 hơi thở. Ðổi chân và tập như bên kia. (Hình 13, 13a).

Tác dụng : Vận động các khớp xương sống và cơ phía sau thân làm cho khí huyết vận hành phía sau lưng, phòng và trị bệnh đau lưng.

Ðộng tác 14 : Chổng mông thở.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Chổng mông và dựa trên điểm tựa gồm hai đầu gối, 2 đầu gối, 2 cùi chõ, 2 cánh tay và cái trán có thể thư giãn hoàn toàn cũng không ngã được, thậm chí ngủ đi nữa cũng không ngã.

Ðộng tác : Hít vô tối đa có trở ngại; giữ hơi, trong lucs ấy dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để có ép bụng. Làm như thế 5 - 10 hơi thở. (Hình 14).

Tác dụng : Ðây là một tư thế thở được nhiều hơi nhất nên tập càng nhiều càng tốt. Ðộng tác này giúp trị các bệnh sa tạng phủ, thoát vị, sa tử cung, bệnh trĩ, làm co hơi trong ruột thoát ra dễ dàng, làm cho máu dồn lên đầu trị bệnh suy nhược thần kinh.

Ðộng tác 15 : NGỒI HOA SEN
Hình ảnh
Kiểu này khó nhất, tác dụng nhất, nhưng lúc đầu đau nhất, máu chảy khô nhất, tê rần nhất; song tập quen thì máu và thần kinh lần lần hoạt động tốt trong bất cứ tư thế nào. Hai bàn tay để lên 2 đầu gối, lưng thật ngay rồi bắt đầu thở : hít vô, thắt lưng ễn càng tốt; giữ hơi, làm dao động qua lại, càng hít vô thêm từ 2 - 6 cái; thở ra bằng cái vặn tréo thân mình ngó ra phía sau bên này, đuổi hết khí trọc trong phổi ra. Rồi ngồi ngay lại như trước, bắt đầu một hơi thở thứ nhì : hít vô, giữ hơi và dao động 2 - 6 cái; thở ra bằng cách vặn tréo người ngó ra phía sau bên kia. (Hình 15d). Làm như thế từ 2 - 4 hơi thở.

Ðộng tác 16 : Xoa mặt và đầu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay chắp lại rất mạnh rồi lăn tròn bàn tay, chung quanh cái trục hai cẳng tay giao nhau, đến mức tối đa phía trên phía dưới từ 2 - 4 lần.

Tác dụng : Làm cho khớp cổ tay khoẻ lên và dẻo dai, bớt nhức mỏi. (Hình 16). Xong xat hai bàn tay vào nhau cho mạnh và nhanh cho hai bàn tay thật nóng.

Ðộng tác : Ðầu ngưỡng về phía sau, hai tay đặt dưới cằm áp vào mặt, xoa mặt từ dưới lên đến đỉnh đầu, đồng thời đầu dần dần cúi xuống ót, đầu ngưỡng hẳn về phía sau, hai tay xoa hai bên cổ và áp vào cằm. Tiếp tục xoa lại như trước, từ 10 - 20 lần (Hình 16a, 16b, 16c và 16d). Trong động tác này, thở tự nhiên.

Ðộng tác 17 : Xoa hai loa tai.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai loa tai có những huyệt châm để trị nhiều bệnh của toàn cơ thể, vậy việc xoa hai loa tai rất cần thiết để điều hoà trong cơ thể, phòng bệnh và trị bệnh. Ðể hai tay úp vào 2 bên má trước loa tai.

Ðộng tác : Xoa bàn tay về phía sau áp vào loa tai, khi bàn tay qua khỏi loa tai rồi, thì xoa trở lại áp vào loa tai cho đến má. Xoa từ 10 - 20 lần cho ấm cả loa tai (Hình 17, 17a). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 18 : Áp vào màng nhĩ.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Úp hai lòng bàn tay vào 2 loa tai cho sát, cho khít chừng nào tốt chừng nấy, để cho kín hơi.

Ðộng tác : Ấn mạnh vào lỗ tai cho hơi trong lỗ tai tăng áp suất và áp vào màng nhĩ, rồi buông hai tan ra cùng một lúc để cho màng nhĩ trở về chỗ cũ. Làm như thế từ 10 đến 20 lần. Ðộng tác này làm tốt thì nghe có tiếng "chít, chít", vì khi áp hai bàn tay vào được khít thì hơi thoát ra kêu "chít, chít".

Tác dụng : Ðộng tác nầy có tác dụng đến tai giữa và tai trong vì màng nhĩ chuyển rung động đến dây chuyền xương nhỏ ở tai giữa đến cửa sổ hình bầu dục ở tai trong, làm cho các xương vận động đều, không xơ cứng và làm cho khí huyết lưu thông vào tận đến trong óc có thể làm bớt cứng tai, bớt lùng bùng, lỗ tai nghe rõ hơn.(Hình 18).

Ðộng tác 19 : Ðánh trống trời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai lòng bàn tay ốp vào hai lỗ tai cho kín, ngón tay để lên xương chẩm.

Ðộng tác : Lấy ngón tay trỏ để lên ngón tay giữa rồi dùng sức bật cho ngón tay trỏ đánh mạnh vào xương chẩm, như "đánh trống trời" xương chẩm : tiếng vang rất lớn vì chuyền trực tiếp bằng con đường xương vào tai trong. Nếu muốn so sánh tai hai bên thì nên đánh so le coi bên nào tiếng tốt hơn. Ðánh độ 10 - 20 lần.

Tác dụng : Ðộng tác này để phòng bệnh và chữa bệnh ở tai trong. (Hình 19).

Ðộng tác 20 : Xoa xoang và mắt.
Hình ảnh
a- Xoa xoang: Chuẩn bị : Dùng 2 ngón tay trỏ và giữa của 2 bàn tay đặt lên phía trong lông mày.

Ðộng tác : Xoa vòng tròn từ phía trong lông mày ra phía ngoài xuống dưới gò má, vỏ mũi, đi lên phía trong lông mày và tiếp tục 10 - 20 lần, xoa các vòng có xoang xương hàm trên và xoang trán, xoa vòng ngược lại 10 - 20 lần. (Hình 20).

Tác dụng : Phòng và chữa bệnh viêm xoang.

b- Xoa mắt : Chuẩn bị : Nhắm mắt lại và đặt 2 ngón tay giữa lên 2 con mắt .

Ðộng tác : Xoa mi mắt trong vòng hố mắt vừa sức chịu đựng của mắt, xoa mỗi chiều 10 - 20 lần.

Tác dụng : Ðề phòng và chữa bệnh mắt : viêm mắt, các bệnh già về mắt. (Hình 20a).

c- Bấm huyệt chung quanh nhãn cầu :

Dùng ngón cái bấm huyệt phía trong và phía trên hố mắt và dùng ngón trỏ bấm huyệt phía ngoài và phía dưới hố mắt, có tác dụng giúp khí huyết lưu thông trong hố mắt.

Ðộng tác 21 : Xoa mũi.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Gồm 5 động tác :
a/ Dùng 2 ngón trỏ và giữa xoa mũi từ dưới lên và từ trên xuống cho ấm đều, đồng thời thở vô ra cho mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21, 21a).

b/ Ðể ngón tay chỗ giáp giới giữa xương mũi và xương sụn mũi, day huyệt độ 10 - 20 lần.(Hình 21b).

c/ Dùng ngón tay trỏ bên này áp vào cánh mũi bên kia, xoa mạnh độ 10 - 20 lần. (Hình 21c).

d/ Dùng 2 ngón tay trỏ ấn mạnh vào huyệt Nghinh hương (ngoài cánh mũi, trên nếp má - môi) và day huyệt ấy độ 10 - 20 lần.(Hình 21d).

e/ Vuốt để lỗ mũi và bẻ đầu mũi qua lại. (Hình 21e).

Tác dụng : Làm ấm mũi và chữa các bệnh ở mũi.

Ðộng tác 22 : Xoa miệng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Xoa miệng để làm cho các cơ miệng, môi, má, cơ nhai, cơ cổ, cơ họng được tăng cường hoạt động, làm cho gương mặt tươi vui, lạc quan, chống gương mặt buồn rầu, bi quan...

Muốn được vậy, điều cần thiết là ta phải căng lên phía các cơ miệng, má, cổ, cơ da (muscle peancier) trước khi xoa thì mới có thể đổi trạng thái của mặt từ bình thường trở thành vui tươi, mà trạng thái vui tươi của mặt sẽ ảnh hưởng đến trạng thái của tâm thần, làm cho tâm thần ngày càng lạc quan. Dĩ nhiên trạng thái tư tưởng và tâm thần quyết định gương mặt, song ảnh hưởng ngược lại cũng cần lưu ý khi tập. (Hình 22, 22a, 22b).

Ðộng tác : Dùng bàn tay bên này xoa miệng và má bên kia, từ miệng đến tai và từ tai đến miệng, 10 - 20 lần rồi đổi bên. (Hình 22c, 22d).

Tác dụng : Phòng và chữa liệt mặt, sữa đổi gương mặt chủ động vui tươi.

Ðộng tác 23 : Xoa cổ.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Căng các cơ như trên, ưỡn cổ và mặt ngó lên trời, một bàn tay xoè ra, ngón cái một bên, 4 ngón kia một bên, đặt lên cổ.

Ðộng tác : Xoa lên xoa xuống từ ngực đến cằm và từ cằm đến ngực cho ấm đều; làm từ 10 - 20 lần. Ðổi tay và xoa như trên.

Tác dụng : Phòng và trị viêm họng, trị ho. Chỗ lõm trên xương ức là huyệt Thiên đột, có thể bấm thêm và day huyệt này.

Muốn bấm huyệt Thiên đột, phải cúi đầu xuống, co ngón trỏ lại thành lưỡi câu rồi móc huyệt Thiên đột về phía dưới dài theo xương ức và day huyệt ấy, không nên chọc thẳng đứng vào cổ, đụng đến khí quản sẽ gây phản xạ ho. (Hình 23, 23a).

Ðộng tác 24 : Ðảo lưỡi - Ðảo mắt
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Ðảo lưỡi trong miệng kết hợp với đảo mắt cùng một hướng, đồng thời dao động thân qua lại.

Ðảo theo vòng tròn từ 5 - 10 lần rồi đảo ngược lại, đồng thời dao động thân qua lại (Hình 24, 24a, 24b, 24c, 24d).

Ðộng tác 25 : Súc miệng - Ðánh răng
Hình ảnh
Súc miệng kết hợp với đảo mắt qua lại và đánh răng đồng thời dao động thân qua lại.

Ðưa một ngụm hơi vào miệng như một ngụm nước cho má phình lên rồi cho nó đảo từ má bên này sang má bên kia, kết hợp với đảo mắt cùng một hướng, đồng thời đảo xong thì gõ răng một lần. Ăn nhịp với động tác đảo thì dao động thân qua lại. Ðảo từ 10 - 20 lần. (Hình 25).

Ðộng tác 26 : Tróc lưỡi.
Hình ảnh
Ðưa lưỡi lên vòm họng và tróc lưỡi. Làm độ 10 - 20 lần.

Tác dụng : Tập cho lưỡi hoạt động linh hoạt, tránh nói năng khó khăn trong lúc tuổi già. (Hình 26 ).

Muốn cho động tác này có tác dụng, thì bụng dưới phải tham gia vào việc tróc lưỡi làm cho nó kêu to. Ðể kiểm tra, đặt tay vào bụng dưới, mỗi lần tróc lưỡi bụng dưới chuyển động rất mạnh.

Chú ý : Trong các động tác lưỡi, thường nước miếng (nước bọt) trào ra, ngừng động tác và nuốt nước miếng cho mạnh để tăng cường tiêu hoá và làm thông tai.

Ðộng tác 27 : Xem xa và xem gần.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngón tay của hai bàn tay gài tréo nhau và đưa lật ra trên trời, đầu bật ra đằng sau, mắt nhìn lên bàn tay ở 1 điểm cố định của một ngón tay để thấy rõ từng nét.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi và làm dao động tay, đầu thân qua lại từ 2 - 6 cái, mắt vẫn nhìn theo điểm cố định, thở ra triệt để, đồng thời đưa tay lại gần mặt độ 5cm mà vẫn cố nhìn rõ điểm cố định. Làm như thế 10 - 20 hơi thở.

Tác dụng : Luyện mắt, để giữ khả năng điều tiết của thuỷ tinh thể; chống viễn thị của tuổi già.

Ðộng tác 28 : Ðưa tay sau gáy.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay tréo nhau, đưa tay sau gáy và hết sức kéo ra sau, đầu bật ra sau.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi và dao động từ trước ra sau từ 2 - 6 cái : thở ra cho khí trọc. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 28).

Ðộng tác 29 : Tay co rút ra phía sau.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Tay co lại, rút ra phía sau, đầu bật ngửa và ưỡn cổ.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 29).

Tác dụng : Ðộng tác này tập cho vùng ngoan cố giãn ra và hết cứng, trở nên dẻo dai... Người khum lưng thì tập cho bớt khum lưng, làm cho lồng ngực hoạt động tự do hơn, ảnh hưởng tốt đến bệnh suyễn, tăng thêm dung tích sống.

Ðộng tác 30 : Ðè tay sau lưng và nghiêng mình.
Hình ảnh

Chuẩn bị : Hai bàn tay để ra sau lưng, càng cao càng tốt, lòng bàn tay lật ra phía ngoài, ngực ễn.

Ðộng tác : Ngả đầu nghiêng đụng giường, hít vô có trở ngại ngồi ngay lên và tiếp tục hít tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra và ngả đầu nghiêng đụng giường phía bên kia. Làm như thế từ 2 - 6 hơi thở. (Hình 30, 30a).

Ðộng tác 31 : Bắt tréo hai tay sau lưng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Một tay đưa ra sau lưng từ dưới lên, tay kia từ trên xuống và cố gắng bắt tréo nhau.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 1 - 3 hơi thở, xong đổi tay bắt tréo bên kia cũng làm từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 31)

Ðộng tác 32 : Tay chống sau lưng, ưỡn ngực.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay chống sau lưng, ngón tay hướng ra phía ngoài.

Ðộng tác : Bật ngửa đầu ra sau, ưỡn lưng cho cong, nẩy bụng đồng thời hít vô tối đa; giữ hơi và dao động từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 32).

Ðộng tác 33 : Ðầu sát giường lăn qua lăn lại.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai tay để lên đầu gối, cúi đầu cho trán đụng giường.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và lăn đầu qua lại từ 2 - 6 cái; mỗi lần lăn qua 1 bên, cố gắng ngó lên trần cho triệt để; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. Xong ngồi dậy. (Hình 33, 33a, 33b).

Ðộng tác 34 : Chồm ra phía trước, ưỡn lưng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Chống hai tay chồm ra phía trước và ưỡn lưng thật sâu.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi, làm dao động bằng cách ẹo xương sống qua một bên, rồi ẹo qua bên kia từ 2 - 6 cái, thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 34).

Ðộng tác 35 : Ngồi ếch.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Từ tư thế trên, ngồi bật ra sau, thân sát giường, cắm đụng chiếu, hai tay chồm ra trước.

Ðộng tác : Ngóc đầu dậy, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại thân đầu từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như vậy từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 35).

Ðộng tác 36 : Cúp lưng.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân ngay ra trước mặt, hai bàn tay để úp vào vùng lưng và xoa lên xoa xuống cho ấm cả vùng lưng. Có thể nắm tay lại xoa cho thật mạnh hơn, cho ấm đều. Xong để úp hai tay vào lưng, ở phía dưới đụng giường.

Ðộng tác : Cúp lưng thật mạnh, làm cho đầu và thân hạ xuống phía dưới, thở ra mạnh và hai bàn tay xoa vùng lưng từ dưới lên trên càng cao càng tốt; ngồi thẳng lên, hơi nghiêng ra sau, hít vô tối đa và đưa cả hai bàn tay xuống phía dưới vào vị trí cũ, đụng giường. Làm như thế 10 hơi thở, chà xát vùng lưng cho nóng ấm để chuẩn bị tập động tác khó hơn. (Hình 36, 36a).

Tác dụng : Làm cho lưng nóng lên, dẻo dai hơn, trị bệnh đau lưng.

Ðộng tác 37 : Rút lưng.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Chân để thẳng trước mặt, hơi co lại cho 2 tay nắm được 2 chân, ngón tay giữa bám vào huyệt Dũng tuyền dưới lòng bàn chân (điểm nối liền 1/3 trước với 2/3 sau lòng bàn chân, không kể ngón chân), ngón tay cái bấm vào huyệt Thái xung trên lưng bàn chân ở phía trên kẽ xương giữa bàn chân thứ nhất (ngón cái) và xương bàn chân thứ nhì).

Ðộng tác : Bắt đầu hít vô tối đa trong tư thế trên, chân hơi co; rồi duỗi chân ra cho ngay và thật mạnh, đồng thời thở ra triệt để. Làm như thế từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 37, 37a).

Tác dụng : Làm cho lưng giãn ra, khí huyết lưu thông, trị bệnh đau lưng. Tay bấm vào huyệt Dũng tuyền điều hoà huyết áp; bấm huyệt Thái xung điều hoà chức năng gan.

Ðộng tác 37 bis : Nắm 2 bàn chân ở phía ngoài, ngón giữa và ngón cái vẫn bấm 2 huyệt trên. Làm động tác trên từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 37 bis, 37 bis a).

Ðộng tác 38 : Hôn đầu gối.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân khít lại ngay ra phía trước, hai tay nắm hai cổ chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; cố gắng hai tay kéo mạnh cho đầu đụng hai chân (hôn đầu gối) đồng thời thở ra triệt để; rồi ngửng đầu dậy hít vô; hôn đầu gối thở ra. Làm như thế từ 3 - 5 hơi thở. (Hình 38, 38a).


Ðộng tác 39 : Chân để trên đầu.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân ngay ra trước, hai tay nắm 1 chân để trên đầu.

Ðộng tác : Hạ đầu xuống đụng đầu gối, thở ra triệt để; ngẩng đầu lên, hít vô tối đa. Làm như vậy từ 3 - 5 hơi thở rồi để chân xuống. Ðổi chân bên kia và cũng tập như thế. (Hình 39).

Tác dụng : Ðộng tác hôn đầu gối và để chân lên đầu vận chuyển rất mạnh các khớp xương sống ở cổ, lưng, thắt lưng, các khớp háng, gối và cổ chân và vận động ở vùng bụng, làm giảm cả toàn thân. Trị các bệnh ở các khớp, chứng bệnh đóng vôi, mọc nhành, làm cho khí huyết lưu thông đến tận cùng, trị được bệnh thần kinh toạ, chống mọi xơ cứng.

Phải tập từ từ cho các khớp quen giãn ra dần dần, đừng nóng vội mà bị cụp lưng sai khớp. Người nào già quá xin miễn làm, coi chừng gãy xương, nếu nóng vội.

Ðộng tác 40 : Ngồi xếp chè he, chống tay phía sau, nẩy bụng.

Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he, hai chân bẹt ra phía ngoài, chống tay sau lưng, đầu ngón tay hướng ra phía ngoài.

Ðộng tác : Nẩy bụng, cong lưng, đầu bật ra phía sau, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm động tác này từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 40).Ðộng tác 41 : Ngồi xếp chè he, cúi đầu ra phía trước đụng giường.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he,hơi nghiêng về phía sau và ưỡn lưng, hai tay nắm hai cẳng chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu xuống đụng giường. Ngồi dậy , hít vô tối đa và tiếp tục làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 41, 41a).

Tác dụng : Cũng như các động tác trên đối với các khớp xương sống và háng, đặc biệt là khớp cổ chân và cườm chân ít bị trặc.

Ðộng tác 41 : Ngồi xếp chè he, cúi đầu ra phía trước đụng giường.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi xếp chè he,hơi nghiêng về phía sau và ưỡn lưng, hai tay nắm hai cẳng chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu xuống đụng giường. Ngồi dậy , hít vô tối đa và tiếp tục làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 41, 41a).

Tác dụng : Cũng như các động tác trên đối với các khớp xương sống và háng, đặc biệt là khớp cổ chân và cườm chân ít bị trặc.

Ðộng tác 42 : Quì gối thẳng, nắm gót chân.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Quì gối thẳng, chống tay lên và nắm gót chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động từ 2 - 6 cái theo hướng trước sau; thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 42).

Tác dụng : Ðộng tác này ưỡn thắt lưng tới mức tối đa và làm cho bụng dưới căng thẳng. Chống bệnh đau lưng và bụng phệ.

Ðộng tác 43 : Ngồi thăng bằng trên gót chân.

Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi thăng bằng trên gót chân, hai tay để xuôi theo mình.

Ðộng tác : Ðưa hai tay ra phía trước, lên trên, ngang ra hai bên và đằng sau, đồng thời thở thuận chiều và triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 43, 43a, 43b, 43c).

Biến thể : Những người khoẻ còn có thể nhún mông từ 2 - 6 cái trong thời gian đưa tay lên và giữ hơi. Người yếu sức tập ngồi thăng bằng và thở.

Tác dụng : Tập cho bộ óc điều khiển thân thể ngồi được thăng bằng trên mấy ngón chân là việc khó, còn nếu nhắm mắt lại, mất sự kiểm tra bằng mắt lại càng khó hơn. Làm chậm quá trình già nua.

Ðộng tác 44 : Ði thẳng mông.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi lưng sát phía thành giường, hai chân đưa ra phía trước.

Ðộng tác : Dùng phần xương u ngồi của xương chậu thay phiên nhau nhắc thân đi tới thanh giường phía bên kia. Thở sâu tự nhiên mỗi khi nhấc thân tới trước. Có thể đi tới rồi đi lui. (Hình 44, 44a).

Tác dụng : Vận chuyển khớp xương vùng chậu (sucrolliaque) và khớp xương mu, các cơ dính liền với xương chậu làm cho khí huyết lưu thông ở vùng chậu, phòng và trị các bệnh ở vùng chậu và bụng dưới.

Biến thể : Chuẩn bị : Hai chân đưa ra trước, 2 tay chống nạnh.

Ðộng tác : Lắc thật mạnh hai tay (tay này ra trước thì tay kia ra sau thay phiên nhau) làm cho khớp xương vùng chậu chuyển động. Ðộng tác này làm tại chỗ không di động. Thở tự nhiên. Làm như thế độ 15 giây đến 1 phút.(Hình 44b, 44c).

Ðộng tác 45 : Ngồi trên chân, kiểu viên đe.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ngồi trên hai chân xếp lại, hai ngón chân cái đụng vào nhau, lưng thẳng hơi ưỡn ra phía sau, hai bàn tay để tự nhiên trên hai vế.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; trong thời giữ hơi, dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để và cúi đầu đụng giường, ép bụng đẩy hết hơi trọc ra ngoài. Làm như vậy từ 10 - 20 hơi thở. (Hình 45, 45a).

Tác dụng : Ngồi kiểu viên đe rất thoải mái, thở chú ý ép bụng dưới, càng thở càng tốt. Phòng và chữa các bệnh ở hộ sinh dục, di tính, liệt dương.

Ðộng tác 46 : Cá nằm phơi bụng.
Hình ảnh

Chuẩn bị : Từ tư thế ngồi kiểu viên đe, nhờ tay giúp nằm ngửa ra, dựa trên đỉnh đầu, lưng cong hổng giường, hai tay để xuôi ôm hai gót chân.

Ðộng tác : Hít vô tối đa; giữ hơi và dao động qua lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 46).

Tác dụng : Ngoài tác dụng chung, động tác này mới làm dễ bị chóng mặt nếu bật đầu quá nhiều ra đằng sau, nếu bật ít sẽ không chóng mặt. Làm quen rồi giải quyết được bệnh chóng mặt.

Ðộng tác 47 : Nằm ngửa ngay chân, khoanh tay ngồi dậy.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Nằm ngửa ngay chân, khoanh tay để trên đầu.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, đưa hai tay xuống để trên ngực, cố gắng từ từ ngồi dậy; cúi đầu xuống hết sức ép bụng thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 47).

Tác dụng : Vận chuyển mạnh các cơ, một đầu bám vào cột sống thắt lưng, một đầu bám vào xương chậu và xương đùi, làm cho các cơ ấy càng càng mạnh thêm lên, làm cho khí huyết vùng thắt lưng và vùng chậu, bệnh phụ nữ, bệnh bộ sinh dục, bệnh táo bón, bệnh viêm cơ thắt lưng - chậu - đùi (psoetis).

Ðộng tác 48 : Xoa tam tiêu.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Tam tiêu chia cơ thể làm ba vùng : vùng bụng dưới (hạ tiêu) vùng bụng trên (trung tiêu) và vùng ngực (thượng tiêu). (Hình L).

- Ở vùng bụng dưới có bộ sinh dục, bọng đái, ruột già, ruột non, đảm rối thần kinh hạ vị.

- Ở vùng bụng trên có dạ dày, ruột non, tuy tang (lá mía) đám rối thần kinh, gan và lách.

- Ở vùng ngực có tim, phổi, đám rối thần kinh tim và phổi.

Xoa hạ tiêu : một tay nắm lại, tay kia úp lên trên để giúp sức. Xoa vòng theo một chiều 10 - 20 lần và ngược lại cũng 10 - 20 lần tuỳ sức, thở tự nhiên. (Hình 48).
Xoa trung tiêu :

a/ Tay nắm lại, tay kia úp lên trên để giúp sức, xoa 10 -20 lần mỗi chiều. Thở tự nhiên. (Hình 48a).

b/ Vuốt từ vùng xương sườn cụt theo bờ sườn đến vùng mỏm xương ức, thay phiên nhau mỗi bên 10 - 20 lần. (Hình 48b, 48c). Có ảnh hưởng đến gan mật và lá lách.

Xoa thượng tiêu : Ðặt bàn tay ngay ra úp lên ngực, bàn tay kia úp chồng lên, hai cánh tay ốp vào lồng ngực rồi xoa vòng tròn theo một chiều 10 - 20 lần rồi đổi theo chiều ngược lại 10 - 20 lần. (Hình 48d, 48e). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 49 : Xoa vai tới ngực.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
Mỗi vùng xoa từ vai tới ngực độ 10 - 20 lần. Bàn tay úp lại, các ngón tay ngay ra mà xoa đi lần lần từ ngoài vai tới trong cổ. Thở tự nhiên.

Chú ý huyệt Ðại chuỳ là một huyệt hội rất quan trọng ở dưới gai đốt sống cổ thứ 7. (Hình 49, 49a, 49b, 49c).

Ðộng tác 50 : Xoa vùng bã vai dưới tới ngực.

Hình ảnhHình ảnh
Bàn tay một bên luồn dưới nách ra tới bã vai sau, rồi từ bã vai xoa mạnh rồi kéo qua tới vùng ngực. Thay phiên nhau xoa từ vai tới ngực 10 - 20 lần. Thở tự nhiên. (Hình 50, 50a).

Ðộng tác 51 : Xoa vòng ngực, thân bên và bụng.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Lấy tay bên này luồn dưới nách qua bên kia tới tận phía sau lưng; đầu, thân mình cũng quay hẳn sang phía ấy rồi vuốt ngang qua vùng ngực đến bên này, đồng thời đầu, thân mình cùng quay theo đến cực độ về hướng đó, cổ và mắt cố gắng ngó cực độ phía sau lưng. Ðổi tay và cùng làm động tác y như vậy, dần dần từ trên ngực hạ thấp từng mức đến bụng dưới, mỗi chỗ từ 5 - 10 lần. (Hình 51, 51a, 51b, 51c). Cuối cùng vuốt bụng từ dưới lên trên 5 - 10 lần (Hình 51d). Thở tự nhiên.

Ðộng tác 52 : Xoa chi trên, phía ngoài và trong.
Hình ảnh
Tư thế ngồi như trước, xoa phía ngoài vùng vai, vùng cánh tay, cẳng tay và bàn tay, trong lúc bàn tay để úp (Hình 52, 52a), xong lật ngửa bàn tay, tiếp tục xoa phía trong từ bàn tay lên cẳng tay, cánh tay, vai (Hình 52b) độ 10 - 20 lần rồi đổi tay xoa bên kia. Thở tự nhiên.

Ðộng tác 53 : Xoa chi dưới, phía trên và dưới.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Hai tay để lên 4 bên đùi, xoa từ trên xuống dưới của phía trước đùi và cẳng chân tới mắt cá, trong lúc chân dần dần giơ cao (Hình 53, 53a, 53b).

Rồi hai tay vòng ra phía sau cổ chân, tiếp tục xoa phía sau từ dưới lên tới đùi, trong lúc chân từ từ hạ xuống. Tay trong vòng lên phía trên đùi, tay ngoài vòng ra phía sau, xoa vùng mông để rồi vòng lên phía trên cùng với bàn tay trong tiếp tục xoa như trên từ 10 - 20 lần. (Hình 53c, 53d, 53e). Bên kia cũng xoa như thế. Thở tự nhiên.

Ðộng tác 54 : Xoa bàn chân.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnh
a/ Xoa lòng bàn chân; hai lòng bàn chân xoa mạnh cha sát với nhau độ 10 - 20 lần (Hình 54, 54a). Thở tự nhiên.

b/ Xoa phía trong bàn chân; phía trong bàn chân bên này để lên phía trong của bàn chân bên kia, chà xát từ trên xuống và từ sau ra trước, tự nhiên bàn chân bên kia nằm trên phía trong bàn chân này, chà xát như trên và thay đổi nhau từ 10 - 20 lần. (Hình 54b, 54c).

c/ Phía ngoài bàn chân bên này chà lên mu bàn chân bên kia chà tới chà lui 10 - 20 lần rồi đổi chân chà như trên 10 - 20 lần (Hình 54d, 54e). Thở tự nhiên.

Tới đây đã xoa xong chi trên và chi dưới.

Trên đây ta tập xong ở tư thế ngồi thông chân và đã xoa khắp cơ thể trừ vùng đáy chậu. Bây giờ ta đứng dậy để tiếp tục tập.

Ðộng tác 55 : Dang hai chân ra xa, nghiêng mình.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Chân đứng dang ra xa, hai tay buông xuôi.

Ðộng tác : Thở bằng vai rút lên cao, hít vô tối đa; giữ hơi và dao động bằng cách nghiêng mình một bên, tay bên ấy vuốt chân từ trên xuống tận măt cá ngoài, tay bên kia vuốt hông từ đùi đến nách; rồi nghiêng mình qua bên kia cùng tay vuốt như trên; làm dao động từ 2 - 4 cái, xong đứng thẳng, thở ra triệt để. Làm như vậy từ 2 - 6 hơi thở. (Hình 55, 55a).

Tác dụng : Ngoài tác dụng trên cột sống, vận chuyển mạnh khí huyết trong lá gan và lá lách, phổi; phòng và chữa bệnh gan lách, thiếu năng phổi.

Ðộng tác 56: Xuống tấn lắc thân.
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị: Xuống tấn là hai chân để song song với nhau, hoặc một tí như hình chữ nhân và cách xa nhau bằng khoảng cách hai vai hay lớn hơn 1 tí, gối rùn xuống nhiều hay ít tuỳ sức của mình (yếu thì rùn ít, mạnh thì rùn nhiều), hai tay tréo nhau và lật bàn tay ra ngoài, đua tay lên trời, đầu bật ra sau và ngó theo tay.

Ðộng tác: Hít vô tối đa; giữ hơi dao động, thân lắc qua bên này thì tay lắc qua bên kia để giữ quân bình, lắc như thế 2-6 cái; để tay xuống thở ra triệt để. Làm động tác trên từ 3-5 hơi thở (Hình 56, 56a, 56b, 56c).

Tác dụng: Ðộng tác này là động tác dao động điển hình của toàn thân từ chân đến đầu, và tận đến ngón tay, chân. Giúp cho toàn tân dẻo dai, linh hoạt, khí huyết lưu thông.

Ðộng tác 57 : Xuống tấn, xoa vùng đáy chậu.
Hình ảnh Hình ảnh
a/ Tư thế xuống tấn, hai tay ở phía trước, một tay lòn xuống phía đáy chậu, tận đến phía sau rồi miết vào vùng hậu môn và đáy chậu, đồng thời mím đít cho cơ năng hậu môn co thắt; đổi tay cũng xoa như trên, thở tự nhiên. Xoa như thế từ 6 - 10 lần (Hình 57, 57a).

b/ Hai tay đưa ra phía sau, một tay lòn xuống đáy chậu tận đến phía trước và xoa từ trước ra sau như trên. Ðổi tay xoa như bên kia. Xoa như thế từ 6 - 10 lần. (Hình 57b, 57c).

Tác dụng : Vùng đáy chậu là vùng khi huyết ứ trệ, vệ sinh sạch sẽ chưa được chú ý đúng mức nên sinh ra nhiều bệnh : bệnh bọng đáy (đái són, đái rắc, sa bọng đái), bệnh tuyến tiền liệt (phì đại lúc già), bệnh trực tràng (trĩ, sa trực tràng), bệnh bộ sinh dục (sa tử cung). Việc xoa vùng đáy chậu và rửa sạch vùng ấy làm cho khí huyết lưu thông, các cơ hoạt động tốt sẽ phòng và giúp trị được các bệnh trên.

Ðộng tác 58 : Quay mông.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân thẳng, cách nhau một khoảng bằng hai vai, hai tay chống nạnh.

Ðộng tác : Quay mông ra phía sau, phía bên này, phía trước, phía bên kia, rồi phía sau, như thế 5 - 10 vòng; rồi đổi sang hướng ngược lại cũng 5 - 10 vòng. Thở tự nhiên.

Tác dụng : Chống xơ cứng cho khớp háng, khớp hông, khớp mu.(Hình 58, 58a,58 c, 58d).

Ðộng tác 59 : Sờ đất vươn lên (Ðộng tác Ăng-tê) (Antéc).
Hình ảnhHình ảnhHình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân, hai gót khít nhau, hai tay chụm vào nhau, cúi đầu, tay đụng đất.

Ðộng tác : Ðứng thẳng dậy, đưa hai tay lên trời ra phía sau hết sức, ưỡn lưng, động thời hít vô tối đa; giữ hơi hai tay vẫn chụm vào nhau, làm dao động hai tay và đâu qua lại; từ từ tách hai tay ra, đưa xuống phía sau, thở ra, rồi đưa tay ra phía trước chụm tay lại, cúi đầu, hai tay sờ đất, thở ra triệt để, làm như vậy từ 2 - 4 hơi thở (Hình 59, 59a, 59b, 59c).

Tác dụng : Ðộng tác này kêu là "Sờ đất vươn lên" hay "động tác Ăng - lê" vì thần Ăng - lê có mẹ là đất nên chỉ sờ đất là lấy sức lại. Nếu cột sống ta tập dẻo dai, sờ đất được, rút được điện dưới đất, thì sức sẽ vươn lên, hít ôxy của khí trời thì càng vươn lên hơn nữa. Làm động tác này phải chụm hai tay lại cho lồng ngực bung ra hai bên lúc đưa tay lên để tăng dung tích sống và giải phóng các khớp xương sườn, cột sống, xương ức. Người cao huyết áp không tập động tác này.

Ðộng tác 60 : Xuống nái nửa vời.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Ðứng cách tường 25cm, 30cm hai chân cách nhau 25cm, đầu bật ngửa ra chấm vào tường, hai tay chịu lên tường lần lần đưa đầu và hai tay xuống thấp, càng thấp càng tốt song cũng không quá sức, làm cho cột sống lưng phía trên (vùng ngoan cố) cong ra phía sau ở tư thế "xuống nái nửa vời" (xuống nái trọn vẹn thì tay chống dưới đất, người già làm không nổi và nguy hiểm).

Ðộng tác : Hít vô tối đa; trong lúc giữ hơi, dao động cái mông qua lại; thở ra triệt để. Làm như thế từ 1 - 3 hơi thở. (Hình 60).

Tác dụng : Sửa cột sống vùng ngoan cố, tật khum lưng và cứng khớp sống - xương sườn để giải phóng lồng ngực, làm cho nó hoạt động tự do, ảnh hưởng đến bệnh hen suyễn.

Ðộng tác 61 : Ðưa quả tạ đôi lên trên và đằng sau.
Hình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân. Nắm chặt hai quả tạ trong hai tay (nặng vừa sức, độ 1kg - 1,5kg mỗi quả).

Ðộng tác : Ðưa hai tay thẳng lên đằng trước và lên trên, cố gắng đưa ra phía sau càng nhiều càng tốt, hít vô tối đa; giữ hơi, dao động trước sau từ 2 - 6 cái; đưa hai tay ra đằng trước, hạ tay xuống đưa ra phía sau, càng xa càng tốt, đồng thời thở ra triệt để, cố ép bụng thật mạnh, càng cố gắng đưa tay ra phía sau thì ép bụng càng mạnh; giữ tư thế ép bụng triệt để 2 - 3 giây. Làm động tác như thế 2 - 5 hơi thở.

Tác dụng : Ðộng tác này giúp thót bụng dưới rất mạnh, rất hữu ích cho những người bụng phệ, bụng nhão. (Hình 61, 61a).

- Có thể làm thêm động tác đưa tay ra hai bên.

Ðộng tác 62 : Cây gậy.
Hình ảnhHình ảnh
Chuẩn bị : Hai chân đứng chữ nhân, hai tay nắm cây gậy để ngang sau vai.

Ðộng tác : Hít vô tối đa, giữ hơi, đưa tay lên càng ra sau nhiều càng tốt (tỉ như có cây gậy khác cài đứng sau lưng kềm chế), dao động hai tay trước sau từ 2 - 6 cái; đưa hai tay xuống vời cây gậy về chỗ cũ, thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở. (Hình 62, 62a).

Tác dụng : Ảnh hưởng đến vùng ngoan cố, đến bệnh hen suyễn. Biến thể : Hít vô tối đa; giữ hơi, dao động nghiêng qua, nghiêng lại từ 2 - 6 cái; thở ra triệt để. Làm như thế từ 2 - 5 hơi thở.

Ðộng tác 63: Treo xà đơn
Hình ảnh
Sắm 1 xà đơn đừng cao lắm, vừa hổng chân người tập, treo ở khung cửa phòng ngủ để tập mỗi ngày. Nhảy lên nắm xà đơn và treo thân mình từ 1-3 phút, tập cho cột sống có dịp giăn ra, do sức nạng của thân, kéo ra, đòng thời tập cho tay có sức mạnh.

Nếu có sức thì rút thân mình lên 1-3 lần để đo sức mạnh. Có thể uốn thân mình công ra phía trước và phía sau từ 5-10 lần mà không xích đu. Có thể lắc thân mình qua lại do hai tay kéo qua kéo lại từ 4-10 lần cho hai tay tăng sức mạnh. Có thể đưa hai chân tahnhf thước thơ đối với thân mình để luyện tập các bắp thịt thắt lưng, dây chậu và đùi. Trong lúc treo, thở tối đa và triệt để.

Lúc xuống nếu xà đơn treo quá cao thì phải có ghế nâng xuống nhẹ nhàng, không nhảy mạnh để tránh đốt xương sống bị sức năng dồn ép, mất hết tác dụng của đọng tác treo.(Hình 63)

Tác dụng: Ðộng tác này giúp hai tay làm chủ đước sức nặng của toàn thân, làm cho thân thể giãn ra không bị bắp thịt co rút triền miên trong tư thế đứng. Có thể bị bệnh chuột rút (vọp bẻ) ở tay của người viết văn hoặc nghệ sĩ đàn dương cầm.


Chu kỳ kinh nguyệt và cách tính ngày rụng trứng


Khi con gái vào tuổi dậy thì, ngoài việc e dè về sự đột ngột xuất hiện những thứ đáng ghét (ngực to, “viôlông” xuất hiện ở vùng kín…) thì những thắc mắc, những băn khoăn khó hiểu như tại sao lại có kinh, chu kỳ của nó ra sao, và làm thế nào để canh chừng ngày trứng rụng nhằm tránh những điều phiền toái sau này khi đã đi quá giới hạn yêu (quan hệ tình dục) với bạn trai… luôn thường trực trong suy nghĩ của các bạn.
Chu kỳ kinh nguyệt là tập hợp các thay đổi sinh lý lặp đi lặp lại ở cơ thể phụ nữ dưới sự điều khiển của hệ hormon sinh dục và cần thiết cho sự sinh sản. Ở phụ nữ, chu kỳ kinh nguyệt điển hình xảy ra hàng tháng giữa thời kỳ dậy thì và mãn kinh. Đèn đỏ là hiện tượng bình thường của tiến trình tự nhiên theo chu kỳ xảy ra ở phụ nữ khoẻ mạnh giữa tuổi dậy thì và cuối tuổi sinh sản. Nó cũng là dấu hiệu báo hiệu phụ nữ không có thai. Trong chu kỳ kinh nguyệt, cơ thể phụ nữ trưởng thành về giới tính phóng thích một trứng (đôi khi 2 trứng). Trước khi phóng noãn, nội mạc tử cung, bao phủ bề mặt tử cung, được xây dựng theo kiểu đồng bộ hoá. Sau khi phóng noãn, nội mạc này thay đổi để chuẩn bị cho trứng thụ tinh làm tổ và hình thành thai kỳ. Nếu thụ tinh và thai kỳ không xảy ra, tử cung loại bỏ lớp nội mạc và chu kỳ kinh mới bắt đầu. Nhiều chị em băn khoăn không biết cách tính ngày rụng trứng như thế nào, theo lời khuyên của Hiệp hội Thai sản Mỹ thì:
- Một chu kỳ kinh được tính từ ngày đầu tiên thấy kinh cho đến ngày đầu tiên của lần tiếp theo.
- Một chu kỳ kinh điển hình kéo dài 28-32 ngày, nhưng có thể ngắn hoặc dài hơn.
- Xác định ngày rụng trứng bằng cách tính thời điểm giữa của chu kỳ, thông thường từ ngày thứ 11 đến 21. Cũng có thể tính ngày rụng trứng là ngày 12 cho đến ngày 16 trước ngày đầu tiên của kỳ kinh tiếp theo.
BS. Vũ Nhân – Suckhoedoisong
——————————————–
Lưu ý: Nếu kỳ kinh là 22 ngày, 26 ngày, 31 ngày vv và vv… ta chia đôi (ví dụ là 34 ngày – 34:2 =17. Ngày noãn có thể thụ tinh là các ngày: thứ 14 – 15 – 16 – 17 – 18 – 19 – kể từ ngày thấy có kinh lần vừa qua).
———————————————-
Những ngày an toàn trong tình dục
Ngày an toàn sẽ được tính theo công thức “odino”, giúp vợ chồng bạn “đầu trần chân đất” để tận hưởng hết cảm giác cực khoái.


Có rất nhiều biện pháp tránh thai như dùng bao cao su, miếng phim mỏng, dùng thuốc tránh thai, xuất tinh ra ngoài… Nhưng mỗi biện pháp đều có cái lợi, cái hại, cái hạn chế. Khi quan hệ với vợ hay bạn gái, đàn ông thường thích “đầu trần chân đất” để tận hưởng hết cảm giác cực khoái. Sau đây giới thiệu cách tính ngày an toàn để ai chưa biết tham khảo.Phụ nữ muốn tính được chu kỳ rụng trứng thì chu kỳ kinh nguyệt phải đều (chu kỳ được gọi là đều thì sau 28 đến 30 ngày sẽ thấy 1 vòng kinh).
Biểu đồ chỉ đúng với phụ nữ có vòng kinh đều
Theo công thức “odino”, căn cứ vào chu kỳ kinh: 28 đến 30 ngày, thì cứ bắt đầu từ ngày thấy kinh đầu tiên (kể cả những ngày đang thấy kinh) sau 12 đến 16 ngày sẽ có 1 chu kỳ rụng trứng. Mỗi chu kỳ rụng trứng trung bình được kéo dài từ 2 đến 7 ngày đối với chị em phụ nữ đã có gia đình… còn đối với các bạn đang tuổi vị thành liên thì sự hưng phấn của sinh lý đang ở lúc cao nhất vì vậy mà chu kỳ rụng trứng nó có thể diễn biến đến sớm hơn và kéo dài hơn .
- Ví dụ: người phụ nữ thấy kinh ngày đầu là ngày 1 tháng 5 (thì sau 12 đến 16 ngày) tức là ngày 12/5 đến ngày 17/5 sẽ là những ngày chính của chu kỳ rụng trứng.
- Diễn giải sự biểu hiện của những ngày rụng trứng (thường phụ nữ thấy kinh từ 1 đến 5 ngày là sạch) như sau:
Theo chu kỳ ví dụ ở trên: ngày mùng 1/5 là ngày đầu tiên thấy kinh,đến ngày 5/5 là ngày sạch kinh (vậy thì từ ngày 1/5 đến ngày 5/5 là những ngày đang thấy kinh).
Còn từ ngày 6/5 đến ngày 11/5 gọi là những ngày mới sạch kinh (chú ý: những ngày mới sạch kinh, khi để ý thì thấy bộ phận sinh dục khô ráo bình thường. Đây có thể gọi là những ngày an toàn khi sinh hoạt tình dục để cho xuất tinh vào mà ít xẩy ra tình trạng có thai.)
- Theo dõi tiếp từ ngày: 11/5 đến 17/5 (trong 6 ngày này) chu kỳ rụng trứng của người nữ bắt đầu xuất hiện 1 noãn trong buồng trứng đã chín, nó sẵn sàng chờ đón sự thụ tinh.
Khi noãn này chín, trong buồng trứng tạo lên một hiện tượng, gọi là hiện tượng “phóng noãn” trong các vòi trứng. Hiện tượng này biểu hiện ra bên ngoài cho thấy: bộ phận sinh dục của người nữ đặc biệt là vùng “cửa mình” sẽ thấy xuất hiện rất nhiều chất nhờn màu trong, hơi dính. Tuyến nhờn này được sinh ra từ buồng trứng, đi qua vòi trứng, xuống tử cung, qua cổ tử cung xuống âm đạo và xuất hiện ở cửa mình. Tuyến nhờn này sinh ra để sau này tinh trùng của người nam khi được xuất vào, nó sẽ giúp cho tinh trùng có đường đi thuận lợi đến với trứng, giúp trứng nhanh được thụ tinh hơn.

Như trên ta đã biết ngày rụng trứng của người nữ như thế nào và khi sinh hoạt tình dục các bạn phải chọn những ngày được gọi là tuyệt đối an toàn, tức là những ngày khi giao hợp để cho xuất tinh vào giúp cả hai bạn nam và nữ có cảm giác cực khoái mà không làm cho người nữ có thai đó là những ngày đầu mới sạch kinh. Cụ thể là 3 đến 5 ngày này, và tuyệt đối tránh cho xuất tinh vào trong đối với những ngày rụng trứng của người nữ.
Chúc các bạn có những giây phút thật hạnh phúc bên người mình yêu!

Các triệu chứng của bệnh ĐTĐ.

Metformin kiểm soát đường huyết: Ai không nên dùng thuốc này?

 

Dạy Tập Dưỡng Sinh Vật lý trị liệu - Phục hồi chức năng xoa bóp bấm huyệt
LƯƠNG Y LÊ VĂN THẢO Điện thoại: 097 333 99 76 -  0912 464 339


THÔNG TIN TÀI KHOẢN

NGÂN HÀNG AGRIBANK

CTK : Lê Văn Thảo.
Số TK: 75082 0512 4170

TIN TỨC NỔI BẬT

thiet ke web thiet ke website web gia re lam web dep thiet ke web pro thiet ke web chuyen nghiep website gia re thiet ke website gia re thiet ke website chuyen nghiep thiet ke website pro thiet ke web gia re website chuyen nghiep web chuyen nghiep website web web site cong ty thiet ke web web 100$ website free web free website mien phi web mien phi