Nghệ thuật sống khỏe

Nghệ Thuật Sống Khỏe

 

Nếu bạn không muốn đau ốm… Hãy nói ra cảm xúc của bạn.

Cảm xúc che giấu và dồn nén dễ đưa đến trầm cảm. 
Hãy chia sẻ với bạn bè hoặc người đáng tin cậy.
Nói là một cách chữa trị tuyệt hảo !

Nếu bạn không muốn đau ốm… Hãy đưa ra quyết định.

Quyết định là dám từ bỏ điều này để chọn điều khác. 
Sự lưỡng lự đưa đến khắc khoải, âu lo.

Nếu bạn không muốn đau ốm… Hãy tìm các giải pháp.

Đừng than thở, và sống bi quan. 
Thà thắp lên một que diêm còn hơn kêu ca về bóng tối.

Nếu bạn không muốn đau ốm… Đừng giả dối bề ngoài.

Người giả dối muốn kẻ khác thấy mình hoàn hảo
Họ giống bức tượng đồng với đôi chân bằng đất sét. 
Giống cây đại thụ mà rễ thì cụt ngủn.

Nếu bạn không muốn đau ốm… Hãy chấp nhận thực tế.

Từ chối thực tế khiến ta bị tha hóa, 
đưa đến ghen tỵ, phân bì, cạnh tranh và đổ vỡ. 
Hãy chấp nhận chính mình và lời phê bình.

Nếu bạn không muốn đau ốm… Hãy tin tưởng.

Kẻ thiếu tin tưởng, từ chối liên lạc với người khác, 
họ thiếu tương quan sâu sắc và tình bạn chân thực. 
Hãy tin nơi khả năng của chính niềm tin.

Nếu bạn không muốn đau ốm… Đừng sống cuộc sống buồn rầu.

Hãy có óc khôi hài, biết cười, biết nghỉ ngơi. 
Những điều này giúp gia tăng sức khỏe và tuổi thọ.

Óc khôi hài có khả năng cải thiện môi trường họ sống 
và cứu chúng ta thoát khỏi tay bác sĩ”

Bai thuốc của tôi uống

Thuốc  uống  của  tôi

1 /Phòng  phong

Cây phòng phong có tên khoa học Radix Ledebouriellae seseloidis, với nguồn gốcRễ đã phơi hay sấy khô của cây Phòng phong (Ledebouriella seseloides Wolf.), họ Cần (Apiaceae). Vị thuốc phải nhập từ Trung Quốc. Đại gia mua bình sâm 6 tỷ chơi Tết Truyền thuyết về Nhân Sâm Tác dụng của nước ép hồng sâm Hàn Quốc với người dùng Những Cái Lợi Và Hại Khi Dùng Nhân Sâm Tươi Hàn Quốc. Hồng sâm giúp nâng cao thể trạng Thành phần hoá học chính: Tinh dầu, các dẫn chất phenol. Hãy cùng khám phá những tác dụng của cây phòng phong khiến bạn bất ngờ, hãy cùng xem nhé ! Tính vị, tác dụng Vị cay, đắng, tính hơi ấm, có hương thơm; có tác dụng khư phong phát biểu, tiêu viêm chống đau, tiêu tích trệ, hoà trung chỉ ẩu. Ở Ấn Ðộ cây được dùng xem như có tác dụng làm thông hơi, làm săn da và bổ. Công dụng, chỉ định và phối hợp Ở Vân Nam dùng chữa cảm mạo, ho, viêm mũi mạn tính, kinh nguyệt quá nhiều, có thai nôn mửa, phong thấp đau xương, ngứa lở ngoài da. Còn được dùng chữa ngực bí bụng trướng, đau bụng nôn mửa, viêm dạ dày ruột, rắn độc cắn. Lá vò ra có mùi hôi của rệp, nhưng phụ nữ vẫn dùng cây nấu nước gội đầu. Rễ có thể dùng trị ỉa chảy sau khi sinh đẻ và cũng chữa rắn cắn. Dầu của cây trị được bệnh đau dạ con.

2/ quế  chi

Quế chi là cành quế con phơi khô làm thuốc (hoặc vỏ của cành quế con của cây quế (Cinamomum cassia Blume) Vị cay ngọt, tính ôn qui kinh Phế, Tâm, Bàng quang.

  • Tác dụng dược lý chủ yếu: giải cảm tán hàn, thông kinh chỉ thống, hành huyết lợi tiểu.
  1. Tán hàn giải cảm: Vỏ quế có tác dụng giải nhiệt, làm giãn mạch ở da giúp giải nhiệt làm ra mồ hôi (tức ôn thông kinh lạc). Theo kinh nghiệm YHCT thì tác dụng của quế chi chủ yếu là giúp các loại thuốc khác giải nhiệt, phát hãn tốt hơn, còn bản thân quế chi thì tác dụng này yếu. Nếu phối hợp với các thu liễm thì thuốc lại có tác dụng cầm mồ hôi.
  2. Giảm đau: thuốc tác dụng lên trung khu cảm giác ở não, nâng cao ngưỡng đau, thuốc có khả năng làm giãn mạch trong bệnh đau đầu do co thắt mạch, có thể làm dịu co thắt cơ trơn. Làm giảm đau bụng.
  3. Trợ tiêu hóa (kiện vị) : Thuốc làm tăng tiết nước bọt và dịch vị giúp tiêu hóa.
  4. Trên ống nghiệm: cồn quế có tác dụng rõ rệt đối với tụ cầu trùng vàng, trực khuẩn thương hàn. Tinh dầu quế có tính sát trùng mạnh.

5.Tác dụng chống vi rút và nấm: trong ống nghiệm, nước sắc quế chi có tác dụng ức chế mạnh vi rút cúm và Nấm gây bệnh.

3/ hạnh  nhân

Ngăn ngừa bệnh tiểu đường với Hạnh nhân

Hạnh nhân là thực phẩm bổ sung dưỡng chất giúp phát triển cơ bắp và giữ vẻ tươi trẻ cho da.

Tại sao phải hạn chế thịt đỏ?

Dù thịt đỏ có ngon mấy chăng nữa nhưng cũng không được khuyên dùng cho những người bệnh tim mạch.

Mặc dù loại thịt đỏ này cung cấp khá nhiều lượng protein, sắt, kẽm, nhiều vitamin B12, niacin và vitamin B6 rất tốt cho sức khỏe nhưng loại thịt này cũng lại chứa nhiều chất béo bão hòa, hoàn toàn không có lợi tí nào cho hệ tim mạch.

 

Hạnh nhân ngăn ngừa tiểu đường

Chứa hàm lượng vitamin E, magiê phong phú nên hạnh nhân là thực phẩm bổ sung dưỡng chất giúp phát triển cơ bắp và giữ vẻ tươi trẻ cho da. Đặc biệt với hàm lượng chất xơ cao, không chứa carb (thành phần chính của các loại tinh bột), hạt hạnh nhân góp phần giảm chỉ số đường huyết trong các bữa ăn.
Với hàm lượng magiê cao, hạnh nhân giúp điều chỉnh lượng đường trong máu, giúp ngừa nguy cơ bị tiểu đường.

Hạnh nhân là loại trái hồ đào ( nuts) rất bổ dưởng được thấy ở Iran, Saudi Arabia, Lebanon, Turkey , Sria, Jordan và Israel. Hanh nhân là ngưồn cung cấp dồi dào về vitamin E, calcium, phosphor, sắt và magnesium.. Hạnh nhân cũng còn chứa kẽm, selenium, đồng và niacin.So với các loại trái hồ đào khác, hạnh nhân có nhiểu chất bổ dưỡng nhất.

Hạnh nhân là loại trái hồ đào ( nuts) rất bổ dưởng được thấy ở Iran, Saudi Arabia, Lebanon, Turkey , Sria, Jordan và Israel. Hanh nhân là ngưồn cung cấp dồi dào về vitamin E, calcium, phosphor, sắt và magnesium.. Hạnh nhân cũng còn chứa kẽm, selenium, đồng và niacin.So với các loại trái hồ đào khác, hạnh nhân có nhiểu chất bổ dưỡng nhất.

Hạnh nhân cũng còn đươc biết là có nhiểu giá trị y dược. Dưới đây là một vài ứng dụng cũa hạnh nhân trong lãnh vực này:

1- Điềuhòa cholesterol. Tiêu thụ đều đặn hạnh nhân có thể giúp tăng mức cholesterol tốt (HDL), giảm mức cholesterol xấu (LDL) và do đó kiểm soát hữu hiệu các mức cholesterol trong máu.

2- Tốt cho tim. Các chất béo đơn-bão hoà, protein và potassium chứa trong hạnh nhất rất tốt cho tim. Vitamin E tác động như một chất chống oxi-hóa và giảm nguy cơ bị các bệnh tim. Magnesium trong hạnh nhân giúp chống lại các cơn đau tim.Hạnh nhân làm giảm protein C-reactive , chất gây viêm làm tổn hại động mạch. Hạnh nhân cũng còn là nguồn cung cấp acid folic, và do đó giúp hạ thấp mức homocystein , nguyên nhân gây sự đóng mảng trong động mạch.

3- Điểu hòa huyết áp.Potassium chứa trong hạnh nhân giúp điều hòa áp huyết. Lượng sodium trong hạnh nhân rất thấp nên cũng giúp chặn không cho áp huyết tăng cao

4-Tốt cho não. Hạnh nhân có nhiều chất bổ dưỡng tốt cho sự phát triển của não và kích thích trí năng

5- Phòng chống ung thư Hạnh nhân cải thiện sự vận chuyển của thực phâm trong ruột nên làm giảm nguy cơ bị ung thư kết tràng

6-Phòng chống tiểu đường Hạnh nhân cũng giúp giảm rủi ro gia tăng mức đường và insulin trong máu sau khi ăn. Điểu này có công dụng bảo vệ chống bệnh tiểu đường

7- Tốt cho thai nhi. Chất acid folic trong hạnh nhận giúp tránh các khuyết tật bẩm sinh cho các thai nhi

8- Giảm cân Sữa hạnh nhân không thêm đường giúp giảm cân. Chất béo đơn bão hòa chứa trong hạnh nhân làm cho cho ăn chóng no nên giúp tránh ăn quá nhiều. Các nghiên cứu cho thấy là thực chế ít calori có nhiều hạnh nhân tốt cho những người mập phì muốn xuống ký

9- Tránh táo bón Hạnh nhân có chất xơ, mà những thức ăn có chất xơ giúp chống táo bón

10- Tăng năng lực Các chất khoáng magnesium, đồng và riboflavin giúp tăng năng lực

11- Phòng ngừa sạn mật – ăn đểu đặn hhạnh nhân có thể giúp giảm rũi ro bị sạn tới khoảng 25 phần trăm

12- Giảm rủi ro bị Alzheimer

13- Cải thiện thể chất (nước da) và tăng cường hệ miễn dịch

Giống như các thực phẩm khác, hạnh nhân cũng có những điểm bất lợi. Hạnh nhân có chứa oxalate, mà oxalate dư thừa có thể gây sự kết tinh. Vì vậy những ai bị bệnh thận hay sạn mật thì không nên ăn hạnh nhân.

8 công dụng của hạt hạnh nhân

1- Cân bằng lượng Cholesterol trong cơ thể. Dùng hạnh nhân đều đặn hàng ngày sẽ giúp bạn tăng hàm lượng Cholesterol tốt (HDL), giảm đáng kể hàm lượng Cholesterol xấu (LDL) và do đó khiến chúng ta kiểm soát hữu hiệu mức Cholesterol trong máu.

2- Hạt hạnh nhân rất tốt cho tim. Trong hạt hạnh nhân có chứa chất béo đơn-bão hoà, protein và potassium, là những chất hỗ trợ rất tốt cho khả năng vận động của tim. Vitamin E trong hạnh nhân tác động như một chất chống oxi-hóa, giúp giảm nguy cơ bị các bệnh tim. Hạnh nhân cũng còn là nguồn cung cấp Acid folic và Magnesium, và do đó giúp hạ thấp mức Homocystein, một loại chỉ số nói lên mức độ đóng mảng trong mạch máu.

3- Hạt hạnh nhân giúp cân bằng và điểu hòa huyết áp. Potassium chứa trong hạnh nhân giúp điều hòa huyết áp.

4- Ăn hạt hạnh nhân đều đặn hàng ngày có thể giúp bạn hòng chống một số loại bệnh ung thư, điển hình là ung thư kết tràng.

5- Hạt hạnh nhân tốt cho thai nhi: Trong hạnh nhân có chứa chất acid- folic, một loại hơp chất giúp bà mẹ bổ sung dinh dưỡng cho thai nhi và giảm các khuyết tật bẩm sinh của em bé.

6- Giảm béo: Tinh dầu hạnh nhân và các chất chứa trong hạt hạnh nhân làm cho bạn ăn có cảm giác chóng no nên giúp tránh ăn quá nhiều. Các nghiên cứu cho thấy thực chế những người béo phì nên thường xuyên bổ sung hạt hạnh nhân vào khẩu phần ăn hàng ngày để kiểm soát hiệu quả trọng lượng cơ thể.

7- Hạnh nhân có chất xơ, giúp bạn chống táo bón hiệu quả

8- Nghiên cứu của các nhà khoa học trên động vật cũng chỉ ra rằng hạt hạnh nhân cũng có thể phòng ngừa sạn mật, giảm rủi ro mắc bệnh Alzheimer, làm đẹp da và tăng cường chức năng hệ miễn dịch

1. Hạnh nhân giúp giảm bớt lượng Cholesterol có hại trong cơ thể

Trong hạnh nhân có chứa nhiều chất dinh dưỡng rất có lợi cho hệ tim mạch như: Magie, Vitamin E, chất xơ .v.v. Theo thống kê, 1 Ounce hạnh nhân sẽ cung cấp 1/4 lượng Magiê cơ thể cần hàng ngày, 70% lượng Vitamin E, 3,3 gram chất xơ. Ngoài ra hạnh nhân có chứa chất béo không bão hòa đơn, là chất béo tốt. Các chất này giúp máu lưu thông khắp cơ thể, giảm triệu chứng bệnh tim mạch, huyết áp, tăng sức đề kháng

Chất xơ có trong hạt hạnh nhân giúp cải thiện hệ tiêu hóa và cân bằng cơ thể. Những chất này cũng là nguồn dinh dưỡng không thể thiếu cho các bà bầu và sự phát triển của thai nhi.

2. Hạt hạnh nhân giúp cải thiện trí tuệ

Hạnh nhân có chứa Phenylalanine, một chất hỗ trợ rất tốt trong việc phát triển các chức năng nhận thức. Ăn một nắm hạt hạnh nhân mỗi ngày giúp cải thiện trí nhớ, tinh thần sảng khoái, giảm Stress

hanh-nhan

3. Hạnh nhân giúp cải thiên da và tóc

Ăn hạt hạnh nhân hàng ngày cũng có thể giúp cải thiện làn da. hỗ trợ ngăn ngừa mụn đầu đen, mụn nhọt, da khô, và thậm chí cả nếp nhăn sớm. Một liệu pháp massage mặt với dầu hạnh nhân có thể giúp làm da sáng bóng, căng mịn, mềm mại. Ngoài ra, vitamin E có trong hạnh nhân cũng có thể giúp đóng góp cho tóc sáng bóng, mượt mà. Dầu Hạnh Nhân thậm chí có thể giúp chữa trị gàu.

4/ xuyên  khung

Xuyên khung là 1 loại cây thảo, sống lâu năm. Thân mọc thẳng, giữa ruột rỗng, mặt ngoài có đường gân dọc.

XUYÊN KHUNG 川 芎

Ligusticum wallichii Franch.

Xuất xứ: Thang Dịch Bản Thảo.

Tên khác: Khung cùng (Bản Kinh), Hương thảo (Ngô Phổ Bản Thảo), Sơn cúc cùng (Tả Truyền), Hồ cùng, Mã hàm khung cùng (Biệt Lục), Tước não khung, Kinh khung (Bản Thảo Đồ Kinh), Quý cùng (Trân Châu Nang), Phủ khung (Đan Khê Tâm Pháp), Đài khung (Bản Thảo Mông Thuyên), Tây khung (Cương Mục), Đỗ khung , Dược cần, Cửu nguyên xuẩn, Xà hưu thảo, Xà ty thảo, Kinh khung (Hòa Hán Dược Khảo), Giả mạc gia (Kim Quang Minh Kinh).

Tên khoa học: Ligusticum wallichii Franch.

Họ khoa học: Họ Hoa tán - Umbelliferae (Apiaceae)

Mô tả: Xuyên khung là 1 loại cây thảo, sống lâu năm. Thân mọc thẳng, giữa ruột rỗng, mặt ngoài có đường gân dọc.  Lá mọc so le, kép 2-3 lần, lá chét có 3-5 đôi, cuống dài, phiến lá rách sâu, khi dùng tay vò ra có mùi thơm, cuống lá dài 9- 17cm, phía dưới ôm lấy thân. Hoa họp thành tán kép, cuống tán phụ ngắn chừng 1cm, hoa nhỏ, mầu  trắng. Quả loại song bế, hình trứng.

Thu hái: Cây trồng sau 2 năm mới bắt đầu thu hoạch.

Phần dùng làm thuốc: Củ (thân rễ) phơi hay sấy khô của cây Xuyên khung (Rhizoma ligustici Wallichi). Lựa củ to, vỏ ngoài đen  vàng, thái lát ra thấy vàng trắng, mùi thơm đặc biệt, không thối nát, chắc, nặng là tốt.

Mô tả dược liệu: Củ như nắm tay, có mấu không đều, nhăn, đường kính 3-6cm hoặc hơi to. Mặt ngoài mầu nâu vàng, có nhiều mấu vòng tròn hơi lồi, có nhiều vết hình tròn lõm và bướu nhỏ vết của rễ. Chất cứng, vết vỏ không phẳng, mầu trắng xám hoặc trắng ngà, có vằn tròn và chấm điểm đầu nhỏ mầu vàng. Mùi thơm đặc biệt, nồng, vị cay đắng, tê lưỡi (Dược Tài Học).

Bào chế:

+ Lấy Xuyên khung khô ngâm nước 1 giờ, ủ kín độ 12 giờ cho mềm, thái lát dầy 1mm, phơi khô. Xuyên khung ngâm rượu: Thái Xuyên khung ra từng lát mỏng, ngâm với rượu (cứ 640g Xuyên khung, dùng 8 lít rượu), sao với lửa hơi nóng cho hơi đen, lấy ra để nguội (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Ngâm nước  rồi gạn đi, ủ lại cho mềm là được, thái phiến, phơi khô, dùng sống hoặc  ngâm rượu để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Rửa sạch, ủ 2-3 ngày cho đến khi mềm, củ nào chưa mềm, ủ lại ( không nên đồ vì dễ bị nát, bay hết tinh dầu), thái lát hoặc  bào mỏng 1-2 mm, phơi hoặc  sấy nhẹ lửa (40-50o), Nếu dùng sống, sau khi thái có thể sao qua cho thơm hoặc  phơi khô rồi tẩm rượu 1 đêm, sao sơ (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

Bảo quản: Để nơi khô ráo, râm mát.

Thành phần hóa học:

+ Trong Xuyên khung có:

. Một Ancaloid dễ bay hơi, công thức C27 H37 N3,  Một Acid C10 H10 O4 với tỉ lệ chừng 0.02%, gần giống Acid Ferulic trong A ngùy. Một chất có tính chất Phenola với công thức C24 H46 O4 hoặc C23 H44 O4, độ chảy 108 độ. Một chất trung tính có công thức C26 H28 O4 độ chảy 98 độ, Saponin, dầu bay hơi, 3 chất kết tinh trong đó có Perlolyrine (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Chuanxiongzine, Tetramethylpyrazine, Perlolyrine, 1-5-Hydroxymethyl-2-Furyl- 9H-pyrido [3,4-b] Indole (Bắc Kinh Chế Dược Công Á Nghiên Cứu Sở, Trung Dược Thông Báo 1980, 15 (10) : 471).

+ Ligustilide, Wallichilide, 3-Butylidenephthalide, 3-Butylidene-7-Hydroxyphthalide Wang Pnshan và cộng sự, Phytochemistry 1984, 23 (9) : 2033).

+ Butylphthalide (Vương Tăng Hỷ, Trung Thảo Dược 1985, 16 (3) : 137).

+ 4-Hydroxy-3-Methoxy styrene, 1-Hydroxy-1-3-Methoxy-4-hydroxyphenyl ethane, Hydroxybenzoic acid, Vanilic acid, Coffeic acid, Protocatechuic acid  (Vương Tăng Hỷ, Trung Thảo Dược 1985, 16 (5) : 237).

Tác dụng dược lý:

+ Đối với hệ thần kinh trung ương:

. Theo Thụ Thượng Sư Thọ: Xuyên khung có tác dụng trấn tĩnh hệ thần kinh trung ương. Dùng nước  sắc Xuyên khung 25-50g/Kg thể trọng cho uống, thấy có khả năng ức chế ở chuột lớn, kéo dài thời gian ngủ. Tinh dầu Xuyên khung liều nhỏ có tác dụng ức chế đối với hoạt động của đại não nhưng lại hưng phấn đối với trung khu  vận mạch, hô hấp và phản xạ ở tủy sống (con vật yên tĩnh, tự động vận động giảm xuống, nhưng huyết áp tăng cao, hô hấp và phản xạ cũng tăng). Nếu dùng liều  quá cao thì đại não bị tê liệt mạnh, các trung khu  phản xạ tủy sống có thể bị ức chế, do đó huyết áp tụt xuống, nhiệt độ có thể giảm, hô hấp khó khăn, vận động có thể bị tê liệt và chết.

+ Tác dụng đối với hệ thần kinh: Nước sắc Xuyên khung cho uống với liều 25-50g/kg có tác dụng trấn tĩnh trên chuột và chuột nhắt. Thuốc kéo dài tác dụng gây ngủ của chất Barbituric nhưng không ảnh hưởng đến tác dụng kích thích của Caffein (Chinese Herbal Medicine).

+ Đối với tuần hoàn:

. Theo Thụ Thượng Sư Thọ: tinh dầu của Xuyên khung có tác dụng làm tê liệt tim, làm cho mạch máu ngoại vi giãn ra, tăng lưu lượng máu ở mạch vành, cải thiện tình trạng thiếu Oxy ở tim. Liều cao có thể làm cho huyết áp hạ xuống  (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

. Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao dùng cồn 70 độ và nước  chiết hoạt chất trong Xuyên khung chế thành dung dịch 10%, tiêm vào tĩnh mạch chó, thỏ và mèo đã gây mê thấy huyết áp hạ xuống rõ [Tác giả giải thích rằng tác dụng này có liên quan đến ảnh hưởng của hệ thần kinh trung ương] (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

. Lý Quảng Túy và Kim Âm Xương  nghiên cứu 27 loại thuốc YHCT đối với huyết áp (thí nghiệm trên chó và mèo đã gây mê) thấy rằng Xuyên khung là 1 vị có tác dụng hạ áp rõ và kéo dài dù tiêm mạch máu hoặc  bắp thịt (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

+ Tác dụng đối với tim mạch: Uống nước sắc Xuyên khung có tác dụng ra mồ hôi nhẹ ở súc vật thí nghiệm nhưng chích tĩnh mạch hoặc chích bắp thịt lại làm giảm huyết áp nơi súc vật được gây mê. Dịch chiết có tác dụng mạnh nhất để hạ áp. Thí nghiệm dài ngày trên chó và chuột thấy nước sắc Xuyên khung với liều 4g/kg mỗi ngày làm tăng huyết áp 20mmHg đối với huyết áp tăng thể thận nhưng không có tác dụng đối với huyết áp tăng thực thể (Chinese Herbal Medicine).

+ Đối với mạch ngoại vi và  áp huyết: Nước  hoặc  cồn ngâm kiệt Xuyên khung và chất Ancaloid chích cho thỏ, mèo và chó được gây mê đều có tác dụng hạ áp lâu dài. Những thí nghiệm dùng nước  ngâm kiệt của Xuyên khung bơm vào dạ dầy của chó và chuột gây huyết áp cao mạn tính do thận viêm hoặc  huyết áp cao thể Cortison đều có tác dụng hạ áp. Chỉ dùng Xuyên khung đơn độc không có tác dụng hạ áp rõ nhưng tăng tác dụng hạ áp của Reserpin. Hoạt chất Xuyên khung còn có tác dụng làm giảm sức cản của huyết áp ngoại vi, tăng lưu lượng của huyết quản ngoại vi, của động mạch chủ và chân, tăng số hoạt động mao mạch và tăng tốc độ máu của vi tuần hoàn (Trung Dược Học).

+ Đối với mạch máu ở não: Xuyên khung làm tăng lưu lượng máu ở não, làm giảm phù não do đó có tác dụng phòng thiếu máu não và chứng nửa đầu đau, có tác dụng trị chứng tai điếc bột phát do thần kinh, phòng được sự hình thành máu cục sau khi cấy da (Trung Dược Học).

+ Đối với tim: Trên thực nghiệâm ếch hoặc  cóc, đối với tim cô lập hoặc  chỉnh thể với nồng độ thấp thấy có tác dụng hưng phấn, tim co bóp tăng, nhịp tim chậm lại. Với nồng độ cao có tác dụng ngược lại: ức chế tim, làm giãn tim và tim ngừng đập (Trung Dược Học).

+ Đối với tiểu cầu: Xuyên khung có tác dụng ức chế sự ngưng tập của tiếu cầu và sự hình thành cục máu (Trung Dược Học).

+ Đối với cơ trơn:

. Kinh Lợi Bân và Thạch Nguyên Cao dùng dung dịch nước  của Xuyên khung thí nghiệm trên  tử cung cô lập của thỏ đã có thai, thấy bằng với liều nhỏ dung dịch nước  Xuyên khung có tác dụng kích thích sự co bóp của tử cung thỏ có thai, cuối cùng  đi đến hiện tượng co quắp, ngược lại nếu dùng liều lượng lớn, tử cung bị tê liệt và đi đến ngừng co bóp. Tiêm dung dịch Xuyên khung liên tục 1 thời gian cho thỏ và chuột bạch có thai thì thấy thai chết trong bụng mà không đẩy ra được (do Xuyên khung gây co bóp tử cung, ảnh hưởng đến dinh dưỡng của thai làm cho thai chết). Hai tác giả trên nhận định rằng người xưa dùng Xuyên khung trị sản phụ bị băng huyết là do Xuyên khung có khả năng làm co tử cung, làm cho mạch máu ở vách tử cung áp chặt vào tử cung gây ra cầm máu (do Xuyên khung làm giãn mạch máu nên không cầm máu được). Đối với ruột cô lập của thỏ và chuột Hà lan cũng có tác dụng tương tự: nếu dùng  lượng nhỏ làm tăng nhu động ruột dần dần  mà không có khả năng làm cho ngừng hẳn, còn nếu dùng liều cao nhu động ruột bị hoàn toàn  ngừng hẳn không khôi phục lại được(Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).

. Lượng nhỏ của 10% nước sắc Xuyên khung có tác dụng điều hòa niêm mạc tử cung thỏ có thai, trong khi đó với liều cao lại làm ngưng tác dụng co tử cung hoàn toàn. Chích liên tục dịch chiết Xuyên khung cho thỏ và chuột có thai gây chết thai nhưng không trục thai ra. Liều nhỏ nước sắc Xuyên khung ức chế nhu động ở tiểu trường thỏ hoặc chuột Hà Lan, Trong khi đó liều cao lại làm ngừng co bóp  (Chinese Herbal Medicine).

. Liều nhỏ dịch ngâm kiệt Xuyên khung có tác dụng làm tăng co bóp cơ tủ cung cô lập của thỏ có thai, liều cao lại làm tê liệt cơ. Đối với ruột cô lập của thỏ và chuột Hà Lan cũng có tác dụng tương tự: lượng nhỏ làm tăng nhu động ruột còn liều cao làm tê liệt. Saponin Xuyên khung, Acid A ngùy và thành phần Lipid nội sinh trung tính cũng có tác dụng tương tự (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng khuẩn: In vitro, Xuyên khung có tác dụng ức chế nhiều khuẩn gây bệnh như Shigella sonnei, Pseudomonas aeruginosa, Salmonella thương hàn và phẩy khuẩn tả. In vitro thuốc cũng có tác dụng ức chế nhiều khuẩn gây bệnh ngoài da  (Chinese Herbal Medicine).

+ Tác dụng an thần: dùng nước  sắc Xuyên khung thụt vào bao tử  chuột nhắt và chuột cống đều có thể làm cho chuột giảm hoạt động tự phát, tăng tác dụng gây ngủ của loại thuốc ngủ Natri Bacbital và tác dụng đối kháng với Cafein hưng phấn trung khu thần kinh (Trung Dược Học).

+ Tác dụng kháng sinh: theo Lưu Quốc Thanh và Trương Duy Tân thì Xuyên khung có tác dụng kháng sinh đối với nhiều loại vi trùng như vi trùng thương hàn, vi trùng sinh mủ, thổ tả, Lỵ Sonner... Xuyên khung cũng có tác dụng chống phóng xạ, kháng khuẩn và chống nấm ngoài da, có tác dụng trị chứng thiếu vitamin E (Trung Dược Học).

Tính vị :

+ Vị cay, tính ấm (Bản Kinh).

+ "Hoàng Đế, Kỳ Bá, Lôi Công: vị chua, không độc. Lý Cảo: Tính ôn, nhiệt, hàn" (Ngô Phổ Bản Thảo).

+ Vị đắng, cay (Đường Bản Thảo).

+ Vị cay, hơi ngọt, khí ấm (Bản Thảo Chính).

+ Vị cay, tính ấm (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

Quy kinh :

+ Vào kinh Can, Đởm (Trung Dược Học).

+ Vào kinh thủ Quyết âm Tâm bào, túc Quyết âm Can và thủ Thiếu dương Tiểu trường,  túc Thiếu dương Đởm (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Vào kinh Can, Tỳ và Tam tiêu (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+ Vào kinh Can, Đởm, Tâm bào  (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

Tác  dụng :

+ Ôn trung nội hàn (Biệt lục).

+ Bổ huyết (Y Học Khải Nguyên).

+ Sấu Can khí, bổ Can huyết, nhuận Can táo, bổ phong hư (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Nhuận táo, chỉ tả lỵ, hành khí, khai uất (Cương Mục).

+ Điều hòa mạch , phá trưng kết, súc huyết, tiêu huyết ứ ( Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Hành khí, khai uất, khứ phong, táo thấp, hoạt huyết, chỉ thống (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Hoạt huyết, hành khí, khứ phong, chỉ thống  (Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Dược Điển).

+ Hoạt huyết, hành khí, khu phong, chỉ thống ( Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Chủ trị :

+ Trị đầu đau do phong hàn nhập vào não, đau nhức do hàn, khớp bị đau, co rút, phụ nữ huyết bị bế, không con ( Bản Kinh ).

+ Trị các chứng hàn khí, ngực bụng đau, trúng ác khí, thình lình bị sưng đau, hông sườn đau, chân răng ra máu ( Biệt lục ).

+ Trị lưng đùi mỏi yếu, bán thân bất toại, nhau thai không ra, bụng đau do lạnh (Dược Tính Luận).

+ Trị phong hàn, đầu đau, chóng mặt, hông sườn đau, bụng đau, đau nhức do hàn , kinh bế, sinh khó, sinh xong huyết bị ứ  gây đau, mụn nhọt (Trung Dược Đại Từ Điển).

+ Trị Can kinh bất điều , kinh bế, hành kinh bụng đau, trưng hà, bụng đau,ngực sườn đau như kim đâm, té ngã sưng đau, đầu đau, phong thấp đau nhức ( Trung Hoa Nhân Dân Cộng Hòa Quốc Điển ) .

+ Trị kinh nguyệt rối loạn, kinh bế, hành kinh bụng đau, sinh khó, sau khi sinh bụng đau, ngực sườn đau tức, tay chân tê dại, mụn nhọt đau nhức, chấn thương té ngã, đầu đau, phong thấp tý (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

Liều dùng : 4 - 8g .

Kiêng kỵ :

+ Bệnh thượng thực hạ hư, âm hư hỏa vượng, nôn mửa, ho, mồ hôi tự ra, mồ hôi trộm, họng khô, miệng khô, phát sốt, phát khát, phiền  táo, không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Khí thăng, đờm suyễn, không dùng ( Bản Thảo Tùng Tân ).

+ Bụng đầy, Tỳ hư, ăn ít, hỏa uất , không dùng ( Đắc Phối Bản Thảo ).

+ Uống Xuyên khung lâu ngày làm mất chân khí ( Phẩm Hối Tinh Nghĩa ).

+ Xuyên khung sợ vị Hoàng kỳ, Sơn thù, Lang độc ; Ghét vị Tiêu thạch, Hoạt thạch, Hoàng liên ;  Phản vị Lê lô ( Bản Thảo Mông Thuyên ).

+ Hợp với Bạch chỉ làm thuốc dẫn, sợ vị Hoàng liên ( Bản Thảo Kinh Tập Chú ).

+ Âm hư hỏa vượng , thượng thực hạ hư mà khí hư, không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển).

5/ nhân sâm

NHÂN SÂM

nhan-sam

Nhân sâm

Tên khác:

Đường sâm, Hồng sâm, Sâm cao ly, Viên sâm...

Tên khoa học:

Radix Ginseng

Nguồn gốc:

Dược liệu là rễ đã chế biến của cây Nhân sâm (Panax ginseng C.A.Mey.), họ Nhân sâm (Araliaceae). Nước ta chưa trồng được cây này. Dược liệu nhập từ các nước khác.

Thành phần hoá học chính:

Saponin triterpen, vitamin, đường, tinh bột.

Công dụng:

Thuốc bổ, chữa bệnh thần kinh suy nhược, ăn ít, ho suyễn, nôn mửa, hồi hộp, sợ hãi.

Cách dùng, liều lượng:

Ngày dùng 2-6g dạng thuốc sắc, thuốc bột, cao lỏng, rượu thuốc.

Chú ý:

Không dùng khi đang đại tiện lỏng, người khó ngủ không nên dùng vào buổi chiều tối. Phản lê lô, Ngũ linh chi

5/ hoàng cầm là vị thuốc có xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng từ rất lâu đã có mặt thường xuyên ở thị trường Việt Nam. Có tới hơn 100 loài được gọi là hoàng cầm.
Lệ giang hoàng cầm.

Hoàng cầm là vị thuốc có xuất xứ từ Trung Quốc, nhưng từ rất lâu đã có mặt thường xuyên ở thị trường Việt Nam. Có tới hơn 100 loài được gọi là hoàng cầm. Trên thực tế, loài hoàng cầm Scutellaria baicalensis Georgi. là loài từ trước đến nay được Đông y sử dụng phổ biến nhất. Đặc điểm của loài này cũng dễ nhận ra vì nó có dạng như chân của con gia cầm, bên ngoài có màu vàng, bên trong lõi thường xốp, có màu nâu đất, đôi khi rất dễ bị vỡ vụn ra. Các loài còn lại rễ thường nhỏ và phân nhiều nhánh con, vỏ rễ ít vàng hơn. Cũng cần biết rằng hoàng cầm chỉ có tác dụng tốt khi bên ngoài vỏ rễ còn giữ được màu vàng, một khi bên ngoài rễ đã biến thành màu xanh gỉ đồng thì hiệu quả trị bệnh của nó sẽ giảm đi rất nhiều, đôi khi hết tác dụng vì thành phần hóa học đã bị thay đổi nhiều. Hoạt chất của nó đã bị ôxy hóa chuyển thành các chất không có tác dụng nữa. Do vậy cần hết sức lưu ý khi sử dụng vị thuốc này. Trong hoàng cầm, thành phần hóa học chủ yết là các hợp chất flavonoid, ngoài ra còn có các thành phần chalcone, tinh dầu...

Tác dụng sinh học của hoàng cầm

Dịch sắc của hoàng cầm sau khi chế biến đều có phổ kháng khuẩn khá rộng, có tác dụng ức chế với nhiều loại vi khuẩn: trực khuẩn bạch hầu, thương hàn, ho gà, lỵ, tụ cầu khuẩn, song cầu khuẩn viêm não, viêm phổi, liên cầu khuẩn tan huyết, còn có tác dụng hạ nhiệt tốt, tác dụng kháng viêm, giảm ho, trừ đờm, lợi tiểu, hạ huyết áp. Hoàng cầm chế gừng có tác dụng trị ho tốt. Hoàng cầm sao đen tăng cường tính thu liễm cố sáp, nâng cao được tác dụng cầm máu. Hoàng cầm sau khi chế biến có tác dụng chống ôxy hóa tốt. Ngoài ra, người ta còn thấy rằng sau khi chế biến, hoàng cầm còn có khả năng tăng cường dẫn thuốc vào các kinh, làm thay đổi tác dụng và giảm đi một số tác dụng phụ của vị thuốc.

Xuyên hoàng cầm.

Công dụng trị bệnh của hoàng cầm

Theo Đông y, hoàng cầm có vị đắng, tính hàn, quy vào 6 kinh: phế, tâm, can, đởm, đại tràng, tiểu tràng với công năng thanh thấp nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, giải độc, an thai. Trên lâm sàng, hoàng cầm được sử dụng để trị rất nhiều loại bệnh khác nhau như: sốt cao do viêm gan hoàng đản, viêm gan virut, viêm ruột, viêm túi mật, viêm bàng quang..., dùng hoàng cầm, long đởm, trạch tả, sài hồ, mộc thông, chi tử, sinh địa, mỗi vị 8g; đương quy, xa tiền tử, mỗi vị 6g; cam thảo 4g, sắc uống ngày một thang, uống liền 3 - 4 tuần.

Viêm phổi, đặc biệt áp - xe phổi hoặc các bệnh viêm phế quản mạn tính kèm theo ho nhiều đờm và khó thở: Hoàng cầm phối hợp với hoàng liên chân gà (Rhizoma Coptidis), hoàng bá (Cortex Phellodendri), đồng lượng, trung bình mỗi vị khoảng 6-12g/ngày, có thể gia thêm bách bộ, mạch môn, cát cánh, mỗi vị 12g, cam thảo 8g. Sắc uống 2-3 lần trong ngày, uống liền 2-3 tuần, không nên uống lúc quá đói sẽ gây cảm giác cồn cào, khó chịu.

7/ phòng kỷ

Mô tả: Dây leo sống nhiều năm có rễ củ nằm ngang mặt đất, thuôn dài hơn củ bình vôi, hình giống tư thế con gà mái đang ấp trứng, khi cắt ngang có màu vàng rõ hơn, ít xơ hơn, đường kính tới 6cm. Thân mềm, có thể dài tới 2,5-4m; vỏ thân màu xanh nhạt, phía gốc hơi đỏ. Lá mọc so le, hình khiên, dài 4-6cm, rộng 4,5-6cm. Gốc hình tim, đầu lá nhọn, mép nguyên, hai mặt lá đều có lông mềm, toàn màu lục, mặt dưới màu tro; gân gốc 5. Hoa nhỏ mọc thành tán đơn, khác gốc, hoa đực có 4 lá đài, 4 cánh hoa, 4 nhị; hoa cái có bao hoa nhỏ như hoa đực và một lá noãn. Quả hạch, hình cầu, hơi dẹt, khi chín màu đỏ.

Hoa tháng 5-6, quả tháng 7-9.

Bộ phận dùng: Rễ củ - Radix Stephaniae Tetrandrae, thường có tên là Phấn phòng kỷ.

Nơi sống và thu hái: Loài của Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Chỉ gặp trong rừng cây bụi, trên núi đá vôi ở Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Hà Tây, Hà Bắc, Quảng Ninh. Người ta thu hái rễ quanh năm, rửa sạch dùng tươi hay thái phiến và phơi khô.

Thành phần hoá học: Có các alcaloid tetrandrine, fenchinoline, cyclanoline, dimetyl tetradrine và berbamine.

Tính vị, tác dụng: Vị đắng, tính hàn; có tác dụng thanh nhiệt giải độc, lợi tiểu tiêu thũng, khư phong trừ thấp, tán ứ chỉ thống.

Công dụng, chỉ định và phối hợp: Ở Trung Quốc, cây được dùng chữa: 1. thủy thũng, giảm niệu; 2. Phong thấp tê đau; 3. Ðau dạ dày, loét hành tá tràng; 4. Viêm dạ dày ruột cấp tính, lỵ; 5. Viêm tuyến nước bọt, sưng amygdal. 6. Ðau thần kinh; 7. Bệnh đường niệu sinh dục, bạch đới; 8.Huyết áp cao. Dùng ngoài trị rắn cắn, mụn nhọt, cụm nhọt. Liều dùng 5-15g. Dạng thuốc sắc.

Dân gian thường dùng rễ sắc nước uống chữa Đau lưng, mỏi nhức chân, đau hông, đau bụng (uống vào ngủ rất say). Dùng đắp chỗ sưng, bắp chuối, nhọt cứng, apxe do tiêm (lẫn tí muối, gừng), dùng cho gia súc như trâu bò uống mỗi khi chúng kém ăn, chê cỏ. Có nơi còn dùng củ băm nhỏ nấu nước uống chữa Kiết lỵ ra máu, đau bụng kinh niên vàđau dạ dày.

8/ phụ  tử

PHỤ TỬ

 

Tên khác:

Vị thuốc phụ tử còn gọi Hắc phụ, Cách tử (Bản Thảo Cương Mục),

Tác dụng:

+ Tính tẩu mà bất thủ, thông hành các kinh (Y Học Khải Nguyên).

+ Thông hành 12 kinh (Dược Tính Thiết Dụng).

+ Ôn Thận, hồi dương, hành thủy, chỉ thống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Chủ Trị:

+ Trị các chứng vong dương, dương hư, hàn tý, âm thư (Trung Dược Học).

+ Trị vong dương, dương hư, thủy thủng, phong thấp đau nhức khớp xương (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kiêng kỵ:

+ Sợ Ngô công, ghét Phòng phong, Hắc đậu, Cam thảo, Hoàng kỳ, Nhân sâm(Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Tương phản với Phòng phong (Trân Châu Nang).

+ Uống Phụ tử để bổ hỏa tất làm cho thủy bị cạn (Thang Dịch Bản Thảo).

+ Úy Lục đậu, Ô cửu, Tê giác, Đồng sấu. Kỵ Xị trấp (Bản Thảo Cương Mục).

+ Người không phải là Thận dương bất túc mà hư hàn nặng: cấm dùng. Tất cả các chứng dương, chứng hỏa, chứng nhiệt, âm hư nội nhiệt, huyết dịch suy đều không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

+ Âm hư dương thịnh, có thai: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Ngộ độc: Khi bị ngộ độc Phụ tử, Ô đầu có dấu hiệu: chảy nước miếng, muốn nôn, nôn, miệng khô, tiêu chảy, hoa mắt, chóng mặt, chân tay và cơ thể có cảm giác tê, tim hồi hộp, thân nhiệt giảm, huyết áp tụt, mạch chậm, khó thở, chân tay co giật, bất tỉnh, tiêu tiểu không tự chủ: Kim ngân hoa 80g, Đậu xanh 80g, Cam thảo 20g, Sinh khương 20g. sắc, pha thêm đường uống để giải (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Liều dùng:  3- 15g.

Phụ tử là rễ củ con của cây Ô đầu (Aconitum Camichaeli Debx.) còn có tên khoa học là Aconitum sinense Paxt, thuộc họ Mao lương (Ranunculaceae).

Dùng làm thuốc được ghi đầu tiên trong sách Bản kinh. Cây Ô đầu chưa thấy trồng ở nước ta, ở Trung quốc được trồng nhiều nơi mà chất lượng tốt nhất là cây mọc ở vùng Tứ xuyên.

Tính vị qui kinh:

Tính vị cay, nóng, có độc. Qui kinh Tâm, Thận, Tỳ.

Theo các sách cổ:

  • Sách Bản kinh: vị cay ôn.
  • Sách Danh y biệt lục: ngọt đại nhiệt, đại độc.
  • Sách Thang dịch bản thảo: nhập Tam tiêu, Mệnh môn.
  • Sách Bản thảo tái tân: nhập Tâm, Can, Thận.

Thành phần chủ yếu:

Hypaconitine, Aconitine, Mesaconitine, Talatisamine, Chuan-wu-base A, Chuan-wu-base B.

Tác dụng dược lý:

A.Theo Y học cổ truyền:

Phụ tử có tác dụng hồi dương cứu nghịch, bổ hỏa trợ dương, ôn kinh, tán hàn, trừ thấp chỉ thống, thông kinh lạc.

Chủ trị các chứng: vong dương, dương hư, hàn tý, âm thư.

Trích đọan Y văn cổ:

  • Sách Bản kinh: " chủ trị chứng ho khí nghịch do phong hàn, thuốc có tác dụng ôn trung, trị chứng kim sang (ung nhọt). Trị các chứng trưng hà, tích tụ, do hàn thấp làm chân gối co đau không đi lại được".
  • Sách Danh y biệt lục: : "trị chân đau lạnh yếu, cột sống lưng phong hàn, bụng đau lạnh (tâm phúc lãnh thống) chứng dịch tả co giật tay chân (hoắc loạn chuyển cân), xích bạch lî. Thuốc có tác dụng kiện gân cốt, cường âm".
  • Sách Bản thảo cương mục: " trường hợp khí hư nhiệt nặng, nên hạn chế dùng Phụ tử cùng với Sâm Kỳ. Trường hợp người mập nhiều thấp nên hạn chế dùng Ô Phụ để hành kinh".
  • Sách Cảnh nhạc toàn thư: " Phụ tử do nhập nhiều kinh nên có công dụng như rượu, có thể trừ hàn nặng ở biểu và ở lý, trị chứng quyết nghịch cấm khẩu, tác dụng ôn trung cường âm, làm ấm ngũ tạng, hồi dương khí, trị cách dương hầu tý (đau họng do lạnh), đại tiện không thông do dương hư và phụ nhân kinh hàn bất điều ( kinh nguyệt không đều do hàn), trị trẻ em mạn kinh phong. Phụ tử dùng nhiều dẫn hỏa qui nguyên, nếu mạch tế vô thần, khí hư vô nhiệt ( chân tay lạnh ngắt) cần dùng cấp cứu".
  • Sách Y học Trung tham tây lục: " Phụ tử, vị cay, tính đại nhiệt, là chủ dược bổ nguyên dương, lực có thể thăng giáng, vào trong tán ngoài, cho nên phàm chứng hàn ngưng lạnh kết ở tạng phủ hay gân cốt chứng tý ở kinh lạc hay huyết mạch thuốc đều khai thông được".

B.Kết quả nghiên cứu dược lý hiện đại:

  1. Nước sắc Phụ tử liều nhỏ làm tăng huyết áp động vật được gây mê, với liều lượng lớn, lúc đầu làm hạ sau làm tăng, tăng lực co bóp cơ tim , tác dụng cường tim rõ, tăng lưu lượng máu của động mạch đùi và làm giảm lực cản của động mạch, làm tăng nhẹ lưu lượng máu của động mạch vành và lực cản. Thành phần cường tim của Phụ tử là phần hòa tan nước. Độc tính của phần hòa tan trong cồn là rất cao so với phần hòa tan trong nước.
  2. Tác dụng kháng viêm: thuốc sắc Phụ tử cho súc vật gây viêm khớp uống hoặc chích màng bụng đều có tác dụng chống viêm.
  3. Tác dụng nội tiết: thuốc có tác dụng làm giảm lượng Vitamin C ở vỏ tuyến thượng thận chuột đồng. Một số thí nghiệm trên súc vật chứng tỏ nước thuốc làm tăng tiết vỏ tuyến thượng thận và tăng chuyển hóa đường, mỡ và protein, nhưng trên một số thí nghiệm khác thì tác dụng này chưa rõ.
  4. Tác dụng lên hệ thần kinh trung ương: acotinine với liều 0,1 - 0,2mg/kg có tác dụng làm giảm phản xạ có điều kiện và không điều kiện và làm giảm nồng độ ammoniac ở não.
  5. Thuốc có tác dụng làm tăng miễn dịch cơ thể.
  6. 9/ Ngưu tất còn được gọi là hoài ngưu tất, đây là loại cây thuốc có nguồn gốc từ trung quốc và hiện được trồng nhiều ở vùng núi – trung du ở các tỉnh phía bắc. Cây ngưu tất có nhiều giá trị y học đáng quý, được áp dụng trong phòng và trị nhiều bệnh về khớp và hoạt huyết.
cay nguu tat

Ngưu tất là một trong những cây thuốc quý có nhiều công dụng chữa bệnh

Cách nhận biết cây ngưu tất

Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m. Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên. Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá.
Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung Quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

Công dụng của ngưu tất theo y học cổ truyền

  • Ngưu tất sống có tác dụng tán huyết ứ, tiêu ung, lợi thấp; chữa đau họng, mụn nhọt; tiểu buốt, tiểu ra máu hoặc sỏi; đau bụng kinh, kinh nguyệt khó khăn; chấn thương tụ máu, đầu gối nhức mỏi.
  • Ngưu tất chín có tác dụng bổ can, ích thận, cường tráng gân cốt.
  • Ngưu tất sao tẩm chữa can thận hư, ù tai, đau lưng mỏi gối, tay chân co quắp hoặc bại liệt.

Một điều cần lưu ý là không dùng cây ngưu tất cho phụ nữ có thai do tác dụng hoạt huyết và tăng co bóp tử cung của nó.

Cholestin được bào chế từ ngưu tất, nghệ, rutin rất tốt cho người bị cao mỡ máu

Cây ngưu tất có công dụng gì trong y học

  • Một số chế phẩm có ngưu tất dùng để điều trị viêm khớp, viêm đa khớp dạng thấp mãn tính; ngưu linh tiên, solamin.
  • Viện Dược liệu có thuốc Dentonin (Antigiva), dùng điều trị viêm răng lợi, có chứa Ngưu tất, Sâm đại hành, Cà gai leo… đã được thử nghiệm lâm sàng cho kết quả tốt.
  • Trên lâm sàng, cây ngưu tất và một số bài thuốc có ngưu tất được dùng điều trị cho bệnh nhân bị mỡ máu cao, cao huyết áp, xơ vữa động mạch,… cho kết quả khá tốt.
  • Ngưu tất có tác dụng lợi tiểu, kích thích sự vận động của tử cung, có tác dụng đến dây thần kinh phía dưới bụng.

10/ Đại táo

 

Tên Khác:

Vị thuốc Đại táo còn gọi Can táo, Mỹ táo, Lương táo (Danh Y Biệt Lục), Hồng táo (Hải Sư Phương), Can xích táo (Bảo Khánh Bản Thảo Triết Trung), Quế táo, Khư táo, Táo cao, Táo bộ, Đơn táo, Đường táo, Nhẫm táo, Tử táo, Quán táo, Đê tao, Táo du, Ngưu đầu, Dương giác, Cẩu nha, Quyết tiết, Kê tâm, Lộc lô, Thiên chưng táo, Phác lạc tô (Hòa Hán Dược Khảo), Giao táo (Nhật Dụng Bản Thảo), Ô táo, Hắc táo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Nam táo (Thực Vật Bản Thảo), Bạch bồ táo, Dương cung táo (Triết Giang Trung Y Tạp Chí), Thích Táo (Tứ Xuyên Trung Y Tạp Chí), Táo tàu (Dược Điển Việt Nam).

Tác dụng:

+ An trung, dưỡng Tỳ, trợ 12 kinh, bình Vị khí, thông cửu khiếu, bổ thiểu khí, hòa bách dược (Bản Kinh).

+ Bổ trung, ích khí, cường lực, trừ phiền muộn (Danh Y Biệt Lục).

+ Giảm độc của vị Ô đầu (Bản Thảo Kinh Tập Chú).

+ Dưỡng huyết, bổ Can (Dược Phẩm Hóa Nghĩa).

+ Nhuận Tâm Phế, chỉ thấu (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).

+ Kiện Tỳ, bổ huyết,  an thần, điều hòa các loại thuốc (Trung Dược Học).

+ Bổ Tỳ, hòa Vị, ích khí, sinh tân, điều doanh vệ, giải độc dược (Trung Quốc Đại Từ Điển).

 

Chủ trị:

+ Trị Tỳ hư, ăn ít, tiêu lỏng, khí huyết tân dịch bất túc,, doanh vệ không điều hòa,hồi hộp, phụ nữ tạng táo (Trung Quốc Đại Từ Điển).

+ Trị Tỳ vị hư nhược, hư tổn, suy nhược, kiết lỵ, vinh vệ bất hòa (Trung Dược Học).

Liều dùng: 3 quả - 10 quả.

Kiêng kỵ:

+ Trái xanh ăn không tốt, không nên ăn nhiều. Ăn táo với hành làm ngũ tạng bất hòa, ăn với cá làm đau bụng, đau thắt lưng (Danh Y Biệt Lục).

+ Ăn nhiều trái Táo chưa chín  sẽ bị nhiệt khát, khí trướng (Thiên Kim Phương – Thực Trị).

+ Vùng dưới ngực có bỉ khối, đầy trướng, nôn mửa: không dùng (Y Học Nhập Môn).

+ Trẻ nhỏ bị cam tích, bụng đầy trướng, đờm nhiệt, răng đau: Cấm dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).

+ Dạ dày đau do khí bế, trẻ nhỏ bị nhiệt cam, bụng to, đau bụng do giun: không dùng (Bản Thảo Hối Ngôn).

+ Đang uống Nguyên sâm, Bạch vi, không được dùng Đại táo (Bản Thảo Tỉnh Thường).

+ Trẻ nhỏ, sản hậu, sau khi bị bệnh ôn nhiệt, thử thấp, hoàng đản, cam tích, đờm trệ: không nên dùng (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ).

11/ củ rừng

Gừng là một gia vị rất quen thuộc và hầu như lúc nào cũng có sẵn ở ngăn bếp của các bà nội trợ. Gừng không những thêm hương vị cho món ăn mà còn giúp cơ thể tiêu hóa và hấp thụ thức ăn dễ dàng. Ngoài ra, gừng còn là một vị thuốc quý trong kho tàng y học dân gian mà mỗi người có thể vận dụng để tự chữa bệnh cho mình.

Mô tả

Gừng có tên khoa học là Zinziber Officinale Rosc, là một loại cây nhỏ, cao từ 5cm - 1m, thân rễ phát triển thành củ. Lá mọc so le, không cuống, có bẹ hình mác dài khoảng 15cm-20cm, rộng 2cm, vò lá có mùi thơm đặc trưng của gừng.

Dược tính và công dụng

Theo y học cổ truyền, gừng có vị cay, tính ấm, vào 3 kinh phế, tỳ, vị, có tác dụng phát biểu, tán hàn ôn trung, tiêuđàm, hành thủy, giải độc. Trong hầu hết các thang thuốc Đông y, dù bệnh hàn hay nhiệt, hư hay thực, các thầy thuốc vẫn thường dùng từ 3 đến 5 lát gừng sống. Ngoài tác dụng hạn chế bớt tính lạnh của các vị thuốc hàn, cách phối hợp này còn giúp cho tỳ vị dễ hấp thu thuốc và người bệnh khỏi nôn rađối với những thuốc khó uống. Ngoài ra tùy theo hình thức sử dụng, gừng có nhiều công dụng khác nhau.

Gừng sống còn gọi là sinh khương có tác dụng phát tán phong hàn, chống nôn ói. Gừng khô còn gọi là can khương, có tính nóng hơn sinh khương, có thể làm ấm tỳ vị. Gừng đốt cháy tồn tính còn gọi là hắc khương. Hắc khương có vị đắng, thường được tẩm đồng tiện, có thể làm ấm can thận, giáng hư hỏa. Vỏ gừng được gọi là khương bì có tác dụng lợi tiểu. Trong kỹ thuật bào chế, gừng cũng có thể giúp cho thầy thuốc đạt được một số mục đích quan trọng. Sinh địa nấu với gừng sẽ hạn chế bớt tính mát. Bán hạ chế với gừng để giải độc. Một số loại thuốc khác như sâm, đinh lăng... cũng thường được tẩm gừng, sao qua để tăng tính ấm và dẫn vào phế vị.

Một số cách sử dụng gừng để trị bệnh

Ngừa cảm lạnh sau khi phải dầm mưa nhiều giờ

Gừng sống 20g.

Gừng sống giã nát, bỏ vào 1 ly nước sôi hoặc trà nóng cho đường vừa đủ ngọt để dễ uống,

uống lúc còn nóng ngay khi vừa về tới nhà.

Chữa ngoại cảm lạnh do lạnh (nấu cháo cảm)

Gừng sống 10g, hành lá 10g, tiêu sọ 10 hạt. Gạo tẻ 1 nắm nấu cháo, lúc sắp bắt xuống cho gừng sống (xắt nhuyễn) hành lá (cắt ngắn) và tiêu sọ (đâm nát) vào quậy đều. Ăn cháo lúc còn nóng.Ăn xong đắp chăn cho ra mồ hôi.

Chữa trúng hàn đi tả hoặc phong hàn gây tê thấp, ho suyễn, tay chân móp lạnh:

Gừng khô tán nhỏ 5g, hòa với nước ấm hoặc nước cháo nóng mà uống.

Chữa nôn mửa khi đi tàu xe:

Gừng sống cắt lát mỏng. Ngậm gừng sống nhấm nháp từng chút một, nuốt nước dần cho tới khi hết nôn.

Chữa mất tiếng hoặc khan tiếng:

Củ cải trắng 2 củ, gừng sống 7 lát. Rửa sạch, giã nhuyễn vắt lấy nước cốt uống làm 2 hoặc 3 lần trong ngày.

Chữa buồn nôn trong thời kỳ có thai

Gừng sống 20g, giã nát hoặc khoảng 8g bột gừng khô. Bỏ gừng vào một ly nước sôi hoặc nước trà nóng, có thể thêm một chút đường cho dễ uống.

Chữa trúng gió, tay chân tê, choáng váng,đột nhiên nói khó, liệt một bên:

Gừng sống 40g, đồng tiện 80cc. Gừng sống giã nát, cho vào một ít nước sôi, vắt lấy nước, hòa với đồng tiện uống lúc đồng tiện còn ấm.

Đồng tiện tính mát, dưỡng âm, có thể trừ phong, tan được huyết ứ, giáng hư hoả. Đồng tiện là nước tiểu "giữa dòng" của bé trai từ 2 đến 10 tuổi. Trên thực tế, để tranh thủ thời gian lúc cấp cứu, có thể sử dụng nước tiểu của người thân trong gia đình có sẳn lúc đó. Bỏ đoạn đầu, bỏ đoạn cuối, chỉ lấy đoạn giữa. Với chức năng phát tán khí huyết ra bì phu và tay chân, giáng khí, hành huyết, tiêu ứ, làm nhẹ áp lực ở vùng ngực và vùng đầu, bài thuốc "sinh khương đồng tiện” cònđược kinh nghiệm dân gian sử dụng trong một số bệnh tim mạch như cơn đau vùng tim, cao huyết áp trong điều kiện không tiếp cận được thầy thuốc.

Tuy nhiên, điều cần nhớ là các triệu chứng trúng phong hoặc tim mạch không bất chợt xảy đến mà thường bắt nguồn từ những sự mất cân bằng trướcđó của cơ thể. Chẳng hạn dương hư hàn thịnh, đàm trọc, huyết ứ, khí trệ… Do đó sau khi giải toả các triệu chứng cấp thời, người bệnh cần đến thầy thuốc chuyên môn để được thăm khám và điều trị thích hợp nhằm ổn định sức khoẻ lâu dài.

Cuối cùng, cũng nên nhắc lại một kinh nghiệm dân gian rất hữu ích và có thể xem như một biện pháp dưỡng sinh làăn 1 - 2 lát gừng sống sau mỗi bữa ăn. Gừng sống vừa giúp kích thích tiêu hóa vừa làm mất đi những mùi thức ăn để lại trong miệng. Ngoài ra, tác dụng "hành khí" của gừng còn tácđộng tới sự lưu thông của khí huyết, ảnh hưởng tốt đến hệ tim mạch.

Tự châm cứu cứu mình

ĐỂ CẤP CỨU CÁC BỆNH THƯỜNG XẢY RA TRONG NHỮNG NGÀY NGHỈ LỄ

ĐỂ CẤP CỨU CÁC BỆNH THƯỜNG XẢY RA TRONG NHỮNG NGÀY NGHỈ LỄ. NHỮNG NƠI XA BỆNH –VIỆN HAY TRONG THỜI GIAN BAN ĐÊM  KHÔNG CẤP CỨU KỊP CÓ THỂ NGUY . Lời dặn  Có nhiều bệnh nhân  chưa quen châm cứu , khi châm  có thể bị chóng mặt, có thể ngất xĩu Đây không phải do châm sai mà do quá sợ :
Phải làm gì ngay : Rút hết kim . cho uống một ly nhỏ nước nóng ,nước trà hay nước sôi để nguội. Bắt nhắm mắt nă’m yên một lúc là khoẻ. Có thể châm màkhông bi chóng mặt nếu châm huyệt NHÂN TRUNG

 

Đau bệnh mãn tính ,có thể bệnh nặng về đêm ,sợ nguy đến tính mạng :
1/CÁCH PHÒNG NGỪA trong khi chờ được CẤP CỨU :
Châm một kim ngắn lọai thanh, nhỏ và bén và châm ít đau như loại Kim TUỆ TĨNH mà tôi thường dùng : Châm thẳng   đứng vào RẢNH MỦI ở điểm 1/3 sát mủi ĐỂ CẦM HƠI THỞ HAY NHỊP TIM .( Xin xem đồ hình số  1 và 2 :           Đây là huyệt NHÂN TRUNG

2/Nếu bệnh nhân bị hôn mê nặng :
Châm ngay 2 kim ở hai KHOÉ MIỆNG để tránh việc bệnh nhân nghiến đứt lưỡi.( Đồ hình 4 )

Lấy kim may hay kim chích máu chích CÁC ĐẦU MƯỜI NGÓN CHÂN và  ĐẦU MƯỜI NGÓN TAY
( Xem Đò hình 5 và 6) chích cho chảy máu và có thể làm cho bệnh nhân tĩnh lại nhanh Sau đó lấy hai bàn tay xoa tròn tim trái và làm hô hấp nhân tạo để phụ vào hơi thở bệnh nhân


3/Nếu bệnh nhân hôn mê lâu cũng có thể chích như thế vì khi chích các đầu ngón tay và ngón chân máu thoát ra và làm cho tùân hoàn tốt hơn

4/Nếu bệnh nhân khó thở thì lấy 8 cây kim nhỏ châm vào nách các xương sườn 1,2 -2,3-3,4-4,5.
Độ 10 , 15 phút sau bệnh nhân sẽ thở lại đều  Xin xem đồ hình số  7)

5/Nếu bệnh nhân bị CAO ÁP HUYẾT  nặng hay ÁP HUYẾT THẤP nặng thì châm ngay 25 KIM NHỎ LÊN 5  ĐƯỜNG (mỗi dường 5 kim xiên theo da đầu không cần chính xác). Độ 45 hay 20 phút sau là thấy trên đầu nhẹ hẳn .
Xin xem đồ hình số  3 )

6/Những bệnh nhân ĐAU ĐẦU bất kỳ cách nào cũng châm trên đầu 25 cây kim nhỏ  như thế
Xin xem Đồ hình số  3 )        Bệnh sẽ nhẹ trong vòng 15 phít sau khi châm và nhẹ hẵn sau một giờ .

7/ Bệnh nhân HO LÂU HAY MỚI HO, ho cảm hay ho gà, ho có đàm hay HEN SUYỄN NẶNG
ĂN HAY BI SẶC , ĐÀM MỚI LÊN .
Bệnh nhân CÓ ĐÀM LÊN TRONG DÊM , CÁCBỆNH NHÂN GIÀ có thể hay bi ngạt thở trong đêm và  chết im lặng  thì nên học cách châm sau đây để chữa trị :
—HO GÀ, HO CẢM , HO NHIỄM TRÙNG : xem Đồ hình só 8 )  và thấy ngứa cổ phía nào là châm một KIM NGẮN vào chỗ chỉ trong Đồ hình rồi lấy băng keo dán chuôi kim cho khỏi bị đụng đau

Để ít nhất 1 giờ và nếu không đau thì để luôn cho lành HO MỚI RÚT KIM
—HO DO ĐÀM, CÓ ĐÀM NHIỀU , HEN HAY SUYỄN ,HO SẶC thì theo Đồ hình số 9                                   châm 1 hay hai bên sụn chữ V hai kim,Châm xong lấy băng keo dán  đuôi  kim lại cho khỏi vướng và đau.

8/Bệnh nhân bị tai biến mạch máu não.nhũn não
Châm liền 25 kim lên đầu như bị cao áp huyết .Đồ hình só 3)
Châm huyệt Nhân trung .Đản trung trên phần dưới xương ức (Đồ hình số 3a)
Chích ra máu các đầu ngón tay và ngón chân( Đồ hình số 5 và 6)
Sau đó lật lưng châm hai hàng kim doc hai bên xương sống theo đường Kinh Giao cảm và các huyệt ờ hai bên các đốt sống lưng từ C1 đến L5 và để lạu 1 giờ( Xem Đồ hình  số 10) ( phía bị liệt tay , chân   )

9/Đang bình thường bị ói mữa liên miên :
Lấy kim châm ngay vào dưới  mõm xương  ức.Trước đó lấy ngón tay trỏ ấn vào chỗ l84m ức độ 5o cái rời hãy châm (Xem đồ hình  11)

10/không rõ lý do mà bị đau bụng đi cầu như bị thổ tã , dau bụng quặn , hay bất kỳ đau hình thức nào ta lấy hai ngón tay trõ và giữa ấn nhanh lên hai huyện NGANG VÀ CÁCH RỐN 3cm rồi lấy một nhúm độ 10 cây nhang ( cây hương thắp cúng bái ) cột gọn lại và đốt cháy độ 2 cm rồi cứu (hơ nóng) ba huyệt : rốn ,hai huyệt cách rốn 3 cm hơ liên tục qua lại 10 đến 20 lần sẽ  thấy êm dần
(Xem đồ hình  12) Sau đó lấy hai cây kim dài bẻ góc  90 độ và châm vào hai huyệt hai bên rốn lưu kim trong 1 giờ hay  hơn


11/CHỮA CÁC BỆNH CẢM,SỐT BẤT CỨ VÌ NGUYÊN DO NÀO :          NHIỄM TRÙNG, SỐT RÉI,THƯƠNG HÀN ,SỐT DO CẢM HÀN NẶNG, SỐT DO CÚM như H5N1 ,H1N1,sốt do yếu các cơ quan trong cơ thể  ( người già ,người bệnh lâu năm .) CÓ THỂ CHỮA CHO SỐT H5N1. H1N1

Từ trước đến nay mỡi khi ai bị sốt  thường bệnh viện hayBác sĩ đo nhiệt độ xong là cho thuốc hạ sốt để uống  và phải đợi hạ sốt sau ít nhất nửa giờ mới tiến hành trị tiếp ,
Sau ngày đất nước độc lập tuy có thuốc nhưng thuốc ngoại thì hay mà đắt tiền còn thuốc nội thì tùy thứ hạ sốt nhanh hay chậm ,Những cơn sốt như cúm gà hay cúm heo (H5N1) vả H1N1, vì cùng lúc bị vừa sốt, vừa nghẹt thở, vừa nhức đầu  quá độ nên trong khi chờ hạ sốt có khi nghẹt thở hay nhưc đầu quá độ mà chịu không nỗi ,có thể bị tử vong .
Trong thời gian hơn 35 năm  nghiên cứu về châm cứu theo Tây y  theo thần kinh học của môn CƠ THỂ HỌC tôi đã tiến hành chữa các bệnh sốt nặng như đã kể trên  và nghiên cứu sâu về các bệnh lý tôi đã áp dụng chữa nhanh cho hai ba bệnh cùng lúc nên kết quả cũng khả quan .Vậy xin đem ra truyền lại cho bà con trong cơn ngặt nghèo có thể tự chữa hay nhờ người chữa theo hướng dẫn như dười đây :

Khi  bị sốt nặng chỉ người bệnh mới biết mình đang đau ở chổ nào nhiều nhất : đau đầu  hay nghẹt thở hay sốt cao và cái nào là phải chữa ngay thì ta phải làm theo .Vì dụ : Ngạt thở quá rồi sốt quá cao rồi nhức đầu . Ta phải tùy theo đó mà chữa trị

1/Chữa ĐAU ,NHỨC ĐẦU
Châm ngay 25 kim trên đầu như ở trường hợp 6 ,châm nhanh Không cần chính xác vì có châm lệch các giây thần kinh phụ cũng đưa về thần kinh chính và cũng có hiệu quả chận đứng ngay các cơn nhức dũ dội .Đồ hình 3

2/Chữa NGHẸT THỞ :
LẤY 10 KIM NGẮN châm xéo ngay vào nách các xương sườn hai bên xương MỎ ÁC từ trên xuống dưới  và lưu kim 1 giờ
(xem đồ hình    7)

3/CHỮA SỐT CAO ;
NẮM HAI BÀN TAY LẠI RỒI GHÉP HAI BÀN TAY SÁT NHAU . Người bệnh NẰM SẤP TRÊN GIƯỜNG , VÉN ÁO LÊN CỔ ĐỂ PHƠI TÓAN LƯNG (theo đồ hình  13      )

GIAI ĐOẠN 1
Hai bàn tay kê sát nhau đặt lên hai bên rảnh xương sống và vừa kéo vừa chà  từ vai xuông lưng quần dọc hai bên rảnh xương sống tù 40 đến 50 cái , Nếu người bệnh chịu được đau thì nên chà mạnh nếu không chịu đươc đau thì chà nhẹ .Hai thớt  lưng sẽ đỏ rần lên
GIAI ĐOẠN 2:
Từ ngang thắt lưng quần hoặc lấy hai ngón trỏ và ngón giữa hoặc lấy hai ngón tay cái  ấn mạnh hai bên và cách rảnh lưng 3cm rồi day mạnh độ 20 lần . Cứ như thế day liền hai đốt sống từ thắt lưng  rồi bỏ một đốt day một đốt lên  đến vai  ( xem video clip)
GIAI ĐOẠN3
Lấy một cây kim may hơi lớn hay một kim chích bệnh  viện chích lể nặn lây máu ở các điểm vừa day từ lưng lên đến vai .Nhố trước khi nặn máu phải lấy bông gòn tẩm cồn lau qua chỗ lể để máu ra cho nhiều

Chú ý :.Cứ chích lẻ lên đền đâu thi lưng sẽ hạ nhiệt ngay ở phía dưới chỗ vừa chích vả hết sốt.Nếu bặn máu ít thì chỉ hạ sốt chứ không lành sốt ngay  .
Nếu là sốt rét chữa sốt không hết thì phải thêm phần thứ tư : lấy 16 cái KIM NHỎ CHÂM VÀO 16 HUYỆT vừa mới lể xong và lưu kim trong 1 giớ .Phải châm liên tiếp 6 liệu kỳ là khỏi vì các Lymphocytes T của 7 triệu tế bào Bạch huyết cầu có thể thanh toán xong hàng triệu con vi trùng sốt rét chứ thuốc uống  không thể diệt hết.

12/BỆNH MÁU NHỒI CƠ TIM CHẾT NGAY
Lập tức đặt ngươi bệnh nằm ngữa ,lấy cây kim may chích vào huyệt NHÂN TRUNG rồi để im . Gọi ngay một người phụ vào làm hô hấp nhân tạo :  nắm hai bàn tay đặt vào dưới ngực rồi đè mạnh bụng  xong thả ra rồi đè lại và thả ra nhiều lần để làm cho hai ngực thở mạnh . Gọi ngay hai người cầm hai cây kim may : môt người lể10 đầu ngón tay nặn máu,một người lể 10 đầu ngón chân . Nên bắt đầu từ ngón chân út lể sang ngón chân cái .Nhớ châm sâu để nặn máu nhiều Khi thấy người chết thụt chân là người chết đã sống lại .Khi ấy người sống lại không nói được .Phải lầy 2 cây kim may hay kim châm cứu châm vào dưới cằm lên lưỡi rồi để im cho lưỡi mềm và bắt đầu nói   . Thế là người chết đã sống lại và tim đập đều không còn nhồi máu cơ tim ( Xem video clip)

14/ĐAU CỔ, VAI. TAY
Bệnh này các Bác sĩ cho là bị THOÁI HÓA cột sống , GAI cột sống .LỆCH ĐỊA ĐỆM .Thoái hóa ở đây Thoái hóa có ngghĩa là ĐAU VÀ CHỈ CHO UỐNG THUỐCVÀ CHÍCH THUỐC GIẢM ĐAU . Ở châm cứu chỉ có châm . Khi đau các đốt sống C1,C2,C3 thì bệnh nhân thấy đau ở sau đầu ( CHẨM) (C là cervical là cổ)
Nhưng nê’u đau từ đốt sống C3,C4,C5,C6,C7,C8(ỏ dưới đốt sống C7 ) sẽ đau ở vai(trước ngực phía vai) và phía sau vai rồi dần dần xuống cánh tay,cẳng tay bàn tay và các ngón (tê hay nhức cả trước lẫn sau và bên cánh tay .Xem Đồ hình số14,15,16,17,18,19 Châm tùy theo độ đau ở dâu ?





Mới đau ở cổ châm theo đồ hình   14 cả 2 bên nếu đau cả hai bên
Dau phía trên và dưới xương đòn gánh  châm theo đồ hình số  15
Đau sau vai châm theo đồ hình số  16
Đau trước cánh tay  châm theo đồ hình   17 trước cánh tay
Đau theo bên cánh tay châm theo đồ hình  18 bên cánh tay
Đau  sau cánh tay châm theo đồ hình  19 sau cánh tay
Đau theo cẳng tay châm theo dọc đường đau Xem đồ hình 17,18
Tê cánh tay m bàn tay, các ngón tay thì chích đầu cácngón tay và nặn máu sẽ bớt tê và nhức
15/Đau ở từ CỔ xuống ngang thắt lưng
Đau ở đốt sống T1,T2,T3,T4 đau ở ngực và Tim ,phổi Châm theo Đồ hình số   21 đau ngực ,phổi trái hoặc phải

Đồ hình số   21 đau tim ,đường tuần hoàn máu
Đồ hình số   21       đau gan
Đồ hình số   21       đau mật
Đồ hình số   21         đau lá lách
Đồ hình số   21         đau dạ dày

16/Đau thắt lưng ( 5 đốt sống L1,L2,L3,L4,L5)
5 đốt sống này làm đau từ THẮT LƯNG ,ĐẾN HÔNG ,MÔNG, ĐÙI ,ĐẦU GỐI,CẲNG CHÂN,BÀN CHÂN , NGÓN CHÂN QUẸO CHÂN , CHUỘT RÚT . Nói chung là trạng thái thấp khớp

Đau ở  thắt lưng  châm theo đồ hình số  22 đau bên nào châm theo bên ấy, đau cả hai bên châm cả hai bên

Đau L1 châm theo đồ hình 26 đau dọc bên ngoài đùi qua gối xuống cẳng chânquẹo vào mắt cá trong

Đau L2 châm theo đồ hình 27 đau từ sau đùi quẹo vào phi’a trong đúi

Đau L3 châm theo dồ hinh 26 đau dọc từ hông ngoài  qua trước đùi rồi quẹo vào phía trong đùi xuống trong đâu gối
Đau L4 châm theo đồ hình 28 đau từ trên hông bao lấy đầu gối rồi đau xuống phia trong cẳng chân

Đau L5 châm theo đồ hình 29 đau từ mông xuống sau đùirồi xuống phía ngoài cẳng chân ,bọcmắt cá ngoài rôi đau xuống trên mu bàn chân

Đau ở chân có nhiếu hình thức : nhức , liệt, tê,đau thần kinh tọa, đau khốp gối, khớp bàn chân , teo chân,chuột rút , trẹo(quẹo) chân lật bàn chân , quẹo ngón chân v..v..
Phần này rất phức tạp phải tùy bệnh chứ không đơn giản
Bị KHÒM LƯNG vì làm nặng nhọc. Các đĩa đệm bị dày lên phía sau cột sống . Có thể châm 2kim nhỏ vào một đĩa đệm vào càc đốt sống làm còm lưng
Xem dồ hình số 25

17/BỆNH MẤT NGỦ MỘT PHẦN ĐÊM HAY SUỐT ĐÊM
Sau khi thăm mạch thấy hoặc yếu tim , yếu thận, hay yếu tỳ ta có thể châm 25 kim trên đầu theo dồ hình số  về bệnh nhức đầu  và lưu kim 1 giờ .
Đồng thời có thể cho uống thêm thang thuốc Bắc  DƯỠNG TÂM THANG  gia giãm Thập tòan đại bổ là có thể ngủ tốt

Bai thuốc của tôi

Theo sách thuốc cổ, nhân trần vị hơi đắng, tính hơi hàn; vào được bốn đường kinh tỳ, vị, can và đởm; có công dụng thanh nhiệt lợi thấp, lợi mật thoái hoàng, được dùng để chữa các chứng hoàng đản, tiểu tiện bất lợi, viêm loét da do phong thấp. Theo y học hiện đại, nhân trần có tác dụng làm tăng tiết và thúc đẩy quá trình bài xuất dịch mật, bảo vệ tế bào gan, ngăn ngừa tình trạng gan nhiễm mỡ, làm hạ huyết áp, thúc đẩy tuần hoàn, giải nhiệt, giảm đau và chống viêm. Nó có khả năng ức chế một số vi khuẩn như tụ cầu vàng, thương hàn, phó thương hàn, mủ xanh, e.coli, lỵ, song cầu khuẩn gây viêm não, viêm phổi và một số loại nấm, cải thiện công năng miễn dịch và ức chế trực tiếp sự tăng sinh của tế bào ung thư. Ngoài ra, nhân trần còn có tác dụng lợi niệu và bình suyễn. Nghiên cứu trên thực nghiệm cho thấy tác dụng tăng tiết mật tăng 24,4% và làm tăng chức năng thải trừ của gan đến 187,5% so với lô chứng. Trong y học hiện đại, nhân trần đã được Bộ môn truyền nhiễm Trường đại học Y khoa Hà Nội dùng điều trị thực nghiệm bệnh viêm gan do virus. Kết quả cho thấy men gan của các bệnh nhân trở về mức bình thường, bệnh nhân hết mệt mỏi, hết đau vùng gan, ăn ngon.

Hạ khô thảo ;

Trung dược học: Cay, đắng, lạnh.

– Bản kinh: Vị đắng, cay, lạnh.

– Biệt lục: Không độc.

– Bản thảo chính: Vị hơi đắng, hơi cay.

Qui kinh

– Trung dược học: Vào kinh Can, Đởm.

– Điền Nam bản thảo: Vào Can.

– Bản thảo kinh sơ: Vào kinh Túc quyết âm, Thiếu dương.

Công dụng và chủ trị

Thanh Can, tán kết.

Trị tràng nhạc, anh lựu, nhũ ung, ung thư vú, tròng mắt đau đêm, sợ ánh sáng chảy nước mắt, đầu mắt chóang váng chóng mặt, miệng mắt méo lệch, gân xương đau nhức, lao phổi, viêm gan truền nhiễm thể hòang đản cấp tính, huyết băng, đới hạ.

Chi tử

Công dụng:

Chữa sốt phiền khát, hoàng đản, thổ huyết, chảy máu cam, đại tiện ra máu, hoả bốc nhức đầu, đỏ mắt, ù tai, tiểu tiện ít và khó, chữa đắp vết sưng đau. Dùng để nhuộm thực phẩm.

Sài hồ

được coi là vị thuốc chủ yếu trong đơn thuốc và thực đơn để bình bổ, điều hoà các trạng thái trầm uất kích động sốt nóng sốt rét, đau quặn đan xen kéo dài mà y lý gọi là hoà giải thoái nhiệt, sơ can giải uất. Sài hồ chứa các hợp chất saponin, tinh dầu, flavonoid. Theo Đông y, sài hồ vị đắng, tính mát; vào can, đởm, tâm bào và tam tiêu.

Có tác dụng tán nhiệt giải biểu, làm thông lợi gan, giảm đau, thăng cử dương khí và cắt cơn sốt rét. Dùng cho các trường hợp sốt nóng, sốt rét, cảm cúm (hàn nhiệt vãng lai), đau vùng ngực bụng, kinh nguyệt không đều, trung khí hạ hãm (các loại thoát vị, sa dạ dày, ruột, tử cung, sổ bụng), viêm gan mạn tính, sốt rét cơn.

Công dụng của cây chó đẻ răng cưa khô (diệp hạ châu)

Cây chó đẻ răng cưa có công dụng củ yếu là:

  • Bảo vệ và phục hồi chức năng gan như giải độc và giúp hạ men gan.
  • Đặc biệt, loại cây này có khả năng phòng chống và chữa trị Viêm gan siêu vi B.

Ngoài ra, loại cây này còn được phát hiện có nhiều công dụng khác như:

  • Giảm thiểu lượng mỡ có trong máu
  • Giảm đau, nhiễm trùng đường tiểu
  • Trị thương hàn, sốt rét, kiết lỵ
  • Hỗ trợ trị sỏi bàng quang, viêm ruột
  • Hỗ trợ trị viêm túi mật, thận, tiêu chảy
  • Giúp thanh nhiệt, trị mụn nhọt, mụn trứng cá
  • Điều hòa kinh nguyệt ở phụ nữ

Cây cỏ xước khô được làm sạch, đóng gói cẩn thận. Sản phẩm có tên khoa học là Achyranthes aspera L thuộc họ nhà dền. Cây còn có tên gọi khác là ngưu tất nam, các mấu ở cỏ xước phình to giống như khớp đầu gối bò, đó là đặc điểm chung của một số loài ngưu tất.

Ngưu tất nam này là một trong các loại cây mọc tự nhiên ở các nơi bụi rậm, bãi cỏ, ven đường ở Việt Nam. Và được chúng tôi lựa chọn giống tốt, gieo trồng bằng hạt để thu hoạch làm dược liệu.

Cỏ xước có lá đơn nguyên, các cành mọc đối, phiến là hình trứng hoặc elip, mép của lá cỏ xước nguyên hoặc có răng cưa. Hoa tự bông mọc đầu nhánh hay kẽ của lá.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Trong cỏ xước có chứa những thành phần sau: Caroten, glucid, nước, protid, sapogenin, saponin

Công dụng của cây cỏ xước khô

Công dụng đặc trị chính yếu của cỏ xước là:

  • Chữa xơ vữa động mạch
  • Giúp bổ gan, thận
  • Giúp lưu thông khí huyết
  • Giúp mạnh gân cốt
  • Giảm cholesterol
  • Tác dụng thanh nhiệt, tiêu viêm, hỗ trợ gout

  • Cây chó đẻ Công dụng của cây chó đẻ (Diệp Hạ Châu): + Diệp Hạ Châu vị đắng, hơi ngọt, tính mát, có tác dụng thanh can lương huyết, lợi tiểu, sát trùng, giải độc + Kích thích tiết dịch mật, tăng cường chức năng gan và dùng nó để điều trị sỏi mật, sỏi thận, viêm bàng quang, vàng da phù, rối loạn tiêu hóa, đau bụng kinh. + Cây Chó Đẻ sử dụng rộng rãi để trị viêm gan B, viêm túi mật, thận, thống phong, sốt rét, thương hàn, cúm, cảm lạnh, kiết lỵ, đau dạ dày, mụn nhọt, lở loét, ung độc. Nó còn được sử dụng như một thuốc giảm đau, kích thích ngon miệng, kích thích trung tiện, tẩy giun, lợi tiểu, điều hòa kinh nguyệt ở phụ nữ

Lá lốt công dụng

có vị nồng, hơi cay, có tính ấm, chống hàn (như bị lạnh bụng), giảm đau, chống phong hàn ở mức thấp, tay chân lạnh, tê tê, nôn mửa, đầy hơi, khó tiêu (có lẽ vì thế mà được dùng với thịt bò nướng vốn khó tiêu), đau đầu vì cảm lạnh...

Nước sắc toàn cây trị đầy bụng, nôn mửa vì bị hàn. Nước sắc rễ chữa tê thấp vì bị khí hàn. Cành lá sắc đặc ngậm chữa đau răng.

Công dụng và liều dùng

Vỏ gáo được nhân dân dùng làm thuốc chữa sốt dưới dạng thuốc sắc với liều 10 - 16g. Có thể dùng gỗ gáo thái mỏng, cũng sắc như vỏ gáo.


THÔNG TIN TÀI KHOẢN

NGÂN HÀNG AGRIBANK

CTK : Lê Văn Thảo.
Số TK: 75082 0512 4170

TIN TỨC NỔI BẬT

thiet ke web thiet ke website web gia re lam web dep thiet ke web pro thiet ke web chuyen nghiep website gia re thiet ke website gia re thiet ke website chuyen nghiep thiet ke website pro thiet ke web gia re website chuyen nghiep web chuyen nghiep website web web site cong ty thiet ke web web 100$ website free web free website mien phi web mien phi cho thue xe thue xe can thue xe xe du lich thue xe du lich thue xe gia re thue xe hoi thue xe hoa thue xe cuoi thue xe du lich dich vu thue xe thue xe dich vu thue xe tu lai thue xe co tai thue xe thang hop dong thue xe cho thue xe gia re thue xe doi moi thue xe toyota thue xe ford thue xe camry thue xe honda sua may tinh sua laptop sua chua may tinh sua may tinh gia re bao tri may tinh bao tri mang bao tri he thong sua may tinh tai nha sua may tinh tan noi thiet ke mang thi cong mang mang wifi trien khai he thong mang may tinh may tinh IBM may tinh bo may tinh de ban nuskin my viet nuskin viet nam nuskin may rang ca phe ca phe sach ca phe nguyen chat